vực địa bàn xã Hương Sơn và các xã liền kề, và một sốđặc điểm chung khu vực
huyện MỹĐức. Nhưng chủ yếu tập trung vào khu di tích thắng cảnh, lễ hội chùa
Hương đặc biệt là một số khu quan trọng nhưĐền Trình, động Hương Tích
+ Về thời gian : Phân tích dựa trên cơ sở số liệu theo báo cáo tổng kết các năm
1997 đến năm 2003 và dự báo phát triển toàn khu đến năm 2010
+ Nội dung: Mô hình quản lý hiện tại và giải pháp cho tương lai.
3. MỤCTIÊUNGHIÊNCỨU.
- Mục tiêu chung: Xây dựng một mô hình quản lý tối ưu cho khu Du lịch chùa
Hương phù hợp với vị trí tiềm năng phát triển, trở thành khu Du lịch Văn hoá có sức
hấp dẫn đặc biệt của Hà Tây nói riêng và của trung tâm Du lịch Hà Nội và phụ cận
nói chung.
- Mục tiêu cụ thể:
+ Đánh giáđúng tiềm năng của khu Du lịch chùa Hương
+ Nghiên cứu xem xét hiện trạng phát triển chùa Hương (1997 - 2003) đặc biệt
là những mô hình tổ chức quản lý khai thác tài nguyên khu Du lịch chùa Hương, tìm
ra những mặt đãđạt được cần phát huy và những mặt hạn chế tồn tại cần khắc phục.
+ Đề xuất một mô hình quản lý khai thác mới cho khu Du lịch chùa Hương
nhằm khắc phục những hạn chếđến sự phát triển du lịch, phát huy được tiềm năng, lợi
thếđể có thể phát triển đa dạng và bền vững.
4. PHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU.
Nhằm thực hiện những mục tiêu đãđặt ra ở trên trong quá trình thực hiện tuỳ
theo từng giai đoạn công việc khác nhau, các phương pháp được sử dụng thích hợp
bao gồm các phương pháp sau: Duy vật lịch sử, duy vật biện chứng, phương pháp thu
nhập số liệu (thứ cấp, sơ cấp), phương pháp khảo sát thực địa, thống kê, phân tích,
tổng hợp.
5. KẾTCẤUCỦAĐỀTÀI.
Ngoài phần mởđầu và kết luận đề tài nghiên được bố cục làm 3 chương:
Chương 1: Khái quát về khu Du lịch chùa Hương.
5
Chương 2: Thực trạng phát triển Du lịch và tổ chức quản lý khai thác tài
nguyên khu Du lịch chùa Hương.
Chương 3: Một số kiến nghị xây dựng mô hình quản lý khai thác tài nguyên
khu Du lịch chùa Hương.
B. PHẦN NỘI DUNG.
CHƯƠNG I.
KHÁIQUÁTVỀKHU DULỊCHCHÙA HƯƠNG.
1.1. VỊTRÍĐỊALÝCỦAKHU DULỊCHCHÙA HƯƠNG.
Khu Du lịch thắng cảnh chùa Hương bao gồm phân giới hành chính của 4 xã
Hương Sơn, An Tiến, Hùng Tiến và An Phú thuộc huyện MỹĐức tỉnh Hà Tây, với
diện tích 5131 ha.
Khu Du lịch chùa Hương nằm trong toạđộđịa lý từ 20
0
29' đến 20
0
24' vĩđộ Bắc
và 105
0
41' kinh độĐông. Phía Nam giáp tỉnh Nam Hà, phía Bắc vàĐông thuộc tỉnh
Hà Tây, phía Tây giáp tỉnh Hoà Bình. Khu Du lịch thắng cảnh chùa Hương cách Hà
Nội về phía Tây- Nam khoảng 60km.
1.2. ĐIỀUKIỆNDÂNSỐVÀLỊCHSỬ.
1.2.1. Dân số.
Khu Du lịch Hương Sơn nằm ngay trong khu dân cư bao gồm 4 xã Hương Sơn,
An Tiến, Hùng Tiến, An Phú. Trong đó Hương Sơn là xãđông dân cư nhất với gần
7000 hộ có 32.210 nhân khẩu.Đây là vùng đất nông nghiệp nên nhân dân chủ yếu
sống bằng nghề nông. Khi vào hội nhân dân trong vùng tập chung chủ yếu là phục vụ
khách du lịch. Nhân dân xã Yến Vĩ chủ yếu sống bằng nghề chèo đò còn các xã khác
chủ yếu là bán hàng lưu niệm hoặc gánh hàng thuê cho khách.
1.2.2. Lịch sử chùa Hương.
Theo Phật Thoại thìđây là nơi Đức Quan ThếÂm Bồ Tát tu hành đắc đạo .
6
BồTát đãứng thân làm công chúa Diệu Thiện, con vua Diệu Trang Vương ở nước
Hưng Lâm, tu hành trong 9 năm trong động Hương Tích. Khi đắc đạo rồi Người trở
về chữa bệnh cho cha ,trừ nghịch cho đất nước và phổđộ chúng sinh.
Khi câu chuyện này được truyền bá ra, các thiền sư , cổđức đã chống gậy tích
tới đây, nhàn du mây nước. Kết quả ba vị hoà thượng đời vua Lê Thánh Tông
(1442-1497) đã tìm thấy động Hương Tích và dựng lên thảo am Thiên Trù . Kể
từđóđộng Hương Tích thường được gọi là Chùa Trong, Thiên Trùđược gọi là Chùa
Ngoài, rồi người ta lấy tên chung cả hai chùa và cả khu vực là Chùa Hương, hay
“Hương Thiên Bảo Sái”. Hương Tích có nghĩa là dấu vết thơm tho, ý nói đây từng là
nơi tu hành của Bồ Tát Quan ThếÂm, còn Thiên Trùđọc theo âm Hán Việt nghĩa là
Bếp Trời, vì chùa nằm trong khu vực ứng với một ngôi sao chủ về việcẩm thực. Do
đó nói đi trẩy hội Chùa Hương tức làđi chiêm bái cả khu vực Hương - Thiên của vùng
núi Hương Sơn. Hàng năm có mấy chục vạn lượt người hành hương tới đây để dâng
lên đức Phật một lời nguyện cầu, một nén tâm hương hoặc thả hồn bay bổng hoà
quyện với thiên nhiên ở vùng rừng núi thơm tho in dấu Phật này.
Kể từ khi vua Lê Thánh Tông đi tuần thú Phương Nam lần thứ II và chư vị Liệt
Tổ chống tích trượng khai sơn phát hiện đến nay. Trải qua mấy trăm năm với chiều
sâu lịch sử và bề dầy truyền thống văn hoáđã tô bồi cho vùng thiên nhiên hùng vĩ này
một bức tranh “kỳ sơn tú thuỷ”. Dãy núi đã bị sự xâm thực lâu đời của thiên nhiên
nên mạch nước khoét núi đã tạo thành nhiều hang động với nét đẹp tự nhiên.
Năm 1687 hoà thượng Trần Đạo Viên Quang mới chống thiền trượng hoằng
truyền và xiển dương đạo Phật khiến vùng này trở thành nơi linh sơn phúc địa.
Đến đầu năm 1947 chùa Hương đã trải qua 9 đời tổ sư nối tiếp xây dựng và
luôn được sựủng hộ của thiện tín muôn phương và nhân dân sở tại. Ngày 17/02/1947
giặc Pháp đã tàn phá Thiên Trù và Tiên Sơn nhưng sau hoà bình lập lại với sự chỉđạo
của nghành văn hoá và chủ trương đúng đắn của nhà nước, thắng cảnh chùa Hương
không những được khôi phục mà ngày càng được mở rộng và phát triển đến hôm nay.
1.3. TÀINGUYÊN DULỊCHCHÙA HƯƠNG.
7
Toàn bộ khu thắng cảnh là một bức tranh toàn mỹ cả về bố cục lẫn màu sắc,
nội dung vàđường nét. Âm hưởng chính của bức tranh ấy là sự hoà quện của đạo với
đời, của thiên nhiên hoang sơ với bóng dáng con người. Hàng năm Chùa Hương đón
tiếp đông đảo nhân dân ở các mọi miền đất nước, kiều bào ở nước ngoài và khách
quốc tếđến thăm. Trong tâm trí của mỗi người dân Việt Nam, Chùa Hương được coi
là báu vật của quốc gia, một tài sản vô giá của hôm qua, hôm nay và mai sau.
Đây là nơi hội tụ của những giá trị to lớn về tài nguyên du lịch tự nhiên và
nhân văn đã khiến Chùa Hương trở thành điểm du lịch nổi tiếng trong và ngoài nước.
1.3.1. Tài nguyên Du lịch tự nhiên.
1.3.1.1. Vị tríđịa lý.
Vị tríđịa lý của Du lịch chùa Hương có lợi thế hơn hẳn các điểm Du lịch khác.
Từ thủđô Hà Nội hoặc các tỉnh đồng bằng có thể liên hệ thuận tiện với khu Du lịch
bằng đường bộ, đường sông. Ngoài ra, nơi dừng chân của khách quốc tếở khu vực
phía Bắc thường là Hà Nội nên chùa Hương chính làđiểm thu hút khách tới tham
quan để tìm hiểu phong tục tập quán của người Việt Nam cũng như tín ngưỡng Phật
Giáo. Đây làđiểm du lịch văn hoá, tham quan, nghiên cứu cóý nghĩa quốc gia và quốc
tế, không chỉđối với Hà Tây mà còn với trung tâm du lịch Hà Nội và phụ cận, vùng
du lịch Bắc Bộ.
1.3.1.2. Địa hình, địa mạo, địa chất.
Khu Du lịch chùa Hương thuộc phần cuối của dẫy núi đá vôi kéo dài từ Lan
Nhi Thăng, cao nguyên Sơn La, cao nguyên Mộc Châu, vùng đá vôi Hoà Bình - Ninh
Bình đến tận bờ biển Nga Sơn - Thanh Hoá, với độ cao từ 1444m (đỉnh Bu Lan Nha
Thăng) giảm xuống 100m - 300m về phía biển đi xuống. Khu vực này tiếp giáp với
châu thổ sông Hồng, đây chính là ranh giới giữa rừng núi, đồng bằng về phía Tây
Nam, đồng bằng sông Hồng. Do vậy, dẫy núi Hương Sơn cũng chỉ là núi thấp, đỉnh
cao nhất là 381m.
Tuy nhiên, do độ chia cắt ngang dày đặc với hệ thống hố rụt, phễu, máng trũng;
những dẫy chuỗi, các hố nhỏ riêng biệt dạng tháp và tháp cụt được liên kết với nhau ở
8
mạng phức tạp, các hệ thống khe dòng chẩy, những mảng rừng nhiệt đới gió mùa xen
kẽđã tạo nên ấn tượng mạnh mẽ về một vùng núi non hùng vĩ, đa dạng cạnh đồng
bằng.
Địa hình, địa mạo của khu du lịch mang đặc điểm của một thời kỳ chấn động
của vỏ trái đất được tạo thành từ thời Triat cách đây xấp xỉ 250 triệu năm. Hiện nay,
do quá trình xâm thực, rửa lũ vẫn đang diễn ra nên khối núi Hương Sơn chính là mẫu
tiêu biểu cho quá trình địa chất, đã vàđang diễn biến.
Mang đặc trưng rất rõ nét của karst nhiệt đới ẩm đa dạng về hình thái trong
các thung lũng đã tạo thành những phong cảnh trông như viện bảo tàng đá tuyệt đẹp.
Khu vực Chùa Hương có ba nhóm dạng địa hình :
+Nhóm dạng địa hình nguồn gốc karst xâm thực tích tụ.
+Nhóm dạng địa hình nguồn gốc karst.
+Nhóm dạng địa hình bãi bồi.
Một số hang động dạng karst ngầm đẹp nh Hinh Bồng, Long Vân, đặc biệt
Hương Tích được chúa Trịnh Sâm khắc vào động: "Nam thiên đệ nhất động" với
chiều dài từ 20-25m, cao 10-15m.
Hệ thống núi ởđây không chỉđẹp ở chiều cao mà còn đẹp ở chiều dầy, chiều
rộng ở các quần tụ bố cục nhịp nhàng giữa núi với núi và núi với nước. Những dãy
núi ởđây đều có hình dáng độc đáo và cóý nghĩa ở chốn cửa phật như núi mâm xôi
với hình ảnh mâm xôi con gà hay núi voi phục mang vẻđẹp tự nhiên của tạo hoá.
Đánh giá chung vềđịa hình, địa mạo khu vực Chùa Hương cho thấy đây là nơi
cóđịa hình núi thấp xâm thực nhưng nằm ngay cạnh đồng bằng, có phong cảnh “sơn
thuỷ hữu tình” có lợi thế rất lớn về mức độ hâp dẫn du khách.
1.3.1.3. Khí hậu, thời tiết.
Khí hậu thời tiết luôn là yếu tốảnh hưởng lớn tới khách du lịch. Chính khí hậu
tạo ra từng loại thời tiết vàđịnh ra mùa du lịch. Khu du lịch chùa Hương nằm hoàn
toàn trong vành đai khí hậu nóng, hàng năm có hai lần mặt trời đi qua thiên đỉnh.
Đặc biệt với lễ hội chùa Hương thì thời tiết mùa xuân là quan trọng vì nó trực
9
tiếp tác động tới hoạt động của lễ hội. Thòi tiết mùa xuân với nhiệt độ dễ chịu
16-20
0
C. Mặt trời chuyển dịch lên cao,nắng xuân ấm dịu. Mưa chủ yếu là mưa bay,
mưa bụi, mưa phùn lên một màn trắng hưảo, mong manh trước cổng chùa và trên cả
núi rừng Hương Sơn. Đó là yếu tố thuận lợi cho khách vì khách sẽ cảm thấy bầu
không khí khác lạ, yên tĩnh, tôn nghiêm, linh thiêng và phần nào bớt mệt khi leo núi.
- Tổng nhiệt độđạt từ 8000
0
C – 8500
0
C/năm. Nhiệt độ trung bình năm là
23.3
0
C/năm. Một năm chia làm hai mùa nóng lạnh rõ rệt. Thời kỳ nóng nhất nhiệt
trung bình là 27
0
C . Thời kỳ lạnh nhất có nhiệt độ trung bình 18
0
C. Thời kỳ tháng
3,4,9,10,11 tương đối thích nghi với sức khoẻ con người thuận lợi cho tham quan,
nghỉ dưỡng.
Chếđộ gió nói chung không gây tác động xấu đến sức khoẻ con người, tạo độ
thông thoáng vừa phải tương đối thuận lợi cho các hoạt động tham quan Du lịch, nghỉ
dưỡng.
- Chếđộ bức xạ nắng,mây, mưa tương đối thích nghi với sức khoẻ con người
thuận lợi cho hoạt động tham quan nghỉ dưỡng.
- Lượng mưa trung bình 1800-2000mm /năm với ngày mưa 140-150 ngày/năm
ở ngưỡng thích hợp đến khá thích hợp .Tuy có lượng mưa nhiều nhưng số ngày mưa
không quá cao do vậy ít cản trởđến hoạt động tham quan du lịch ngoài trời.
Với số giờ nắng cao và lượng nhiệt như vậy nên ởđây cây cối có thể ra hoa kết
quả quanh năm.
Các học giảấn Độđãđưa ra các chỉ tiêu khí hậu sinh học đối với con người như
sau :
Bảng 1: Chỉ tiêu khí hậu sinh học đối với con người.
Hạng Ý nghĩa Nhiệt độ
trung bình
năm (độ C)
Nhiệt độ
trung bình
tháng (độ C)
Biên độ của
t
0
độ trung bình
(độ C)
Lượng mưa
trung bình
năm (mm)
1 Thích nghi 8-24 24-27 <6 1250-1902
10
2 Khá thích nghi 24-27 27-29 6-8 1900-2550
3 Nóng 7-29 29-32 8-14 >2550
4 Rất nóng 29-32 32-35 14-19 <1250
5 K
o
thích nghi >32 >35 >19 <650
(Nguồn : Viện nghiên cứu và phát triển du lịch)
Qua bảng số liệu trên và tình hình khí hậu khu du lịch Chùa Hương ta thấy khí
hậu ởđây thuộc vào loại thích nghi và khá thích nghi, phù hợp với sức khoẻ con
người. Đây là một trong những yếu tố hấp dẫn thu hút khách du lịch. Trên cơ sởđó
khu du lịch cần khai thác triệt để khía cạnh này, một mặt cũng cần có những biện
pháp phòng chống những khó khăn do khí hậu gây ra như nhiệt độ vào mùa hè cao,
cần có những thiết bị chống nóng trong nhà nghỉ cho khách, hay trồng nhiều cây để
lấy bóng mát và tạo cảnh quan thêm đẹp.
1.3.1.4. Thuỷ văn.
Để phục vụ cho khách du lịch thì nguồn nước đóng vai trò quan trọng. Nguồn
nước ảnh hưởng tới môi trường sống còn lại trong khu vực và phục vụ cho môi
trường sinh hoạt vệ sinh của dân c và khách du lịch.Mạng lới thuỷ văn của huyện
MỹĐức rất phong phú gồm lưu lượng nước của hai con sông lớn: sông Đáy, sông
Thanh Hà và hệ thống suối : suối Yến, suối Long Vân … đều do nguồn nước ngầm
Karst cung cấp tạo ra dòng chảy quanh năm.
Đặc biệt với dòng suối Yến hiền hoà thơ mộng uốn lượn quanh co chạy dài
3km mất khoảng một giờđi đòđưa du khách đến chùa Thiên Trùđể vào động Hương
Tích. Không chỉđóng vai trò là dòng chảy đón đưa du khách mà suối Yến còn tạo cho
du khách cảm giác lãng mạn, thả hồn trước cảnh “Sơn thuỷ hữu tình “. Chẳng thế mà
Chu Mạnh Trinh đã phải thốt lên khi tới Chùa Hương “ kìa non non, nước nước, mây
mây\ Đệ nhất động hỏi rằng đây có phải”. Đây chính là một yếu tố tăng sức hấp dẫn ở
Chùa Hương.
Theo điều tra nghiên cứu của Viện nghiên cứu và phát triển du lịch thì hệ thống
thuỷ văn rất phong phú, với tầng nước ngầm dồi dào sẽ là một điểm mạnh để cung
cấplượng nước đảm bảo cho việc khai thác, phục vụ các nhu cầu du lịch, sinh hoạt
của khách và dân cư.
11
Bảng 2: Thành phần cán cân nước trong khu vực
P (mm) R(mm) E(mm) α
1900 1083 817 0.57
( Nguồn : Viện nghiên cứu và phát triển du lịch)
P : lượng nước mưa năm E : lượng bốc hơi năm
R : lượng dòng chảy năm α : hệ số dòng chảy
Tóm lại, nhìn chung về mặt tài nguyên nước ở khu vực có thể thấy lượng nước
trong khu vực là kháđủ, và sạch phục vụ cho nhu cầu du lịch và sinh hoạt .Nhưng do
tính chất đặc biệt của cấu tạo địa chất nên cần có những biện pháp khai thác hợp lýđể
cho môi trường nước luôn trong sạch, góp phần vào phát triển du lịch bền vững ở khu
vực.
1.3.1.5. Tài nguyên đất và Sinh vật.
*. Tài nguyên đất
Khu du lịch Chùa Hương thuộc vùng núi Hương Sơn. một vùng núi trong dãy
“Hạ Long cạn” của hệ thống đồi núi sót nổi lên giữa trung tâm Bắc Bộ. Là vùng
chuyển tiếp giữa hệ thống đồi núi đá vôi từ Tây Bắc qua Hoà Bình, và bên kia là
thềm đồng bằng châu thổ sông Hồng, nên mặc dù có diện tích không lớn (5000 ha)
nhưng có sự phân hoá mạnh mẽ của địa hình thổ nhưỡng. Điều này đã tạo cho khu du
lịch nhiều danh lam thắng cảnh, đặc biệt là hệ thống hang động trong các núi đá vôi.
Với tổng diện tích đất của vùng trên 5000 ha bao gồm 2 dãy núi đá vôi chính,
kẹp giữa là thung lũng suối Yến, ngoài ra còn có các đồng bằng và các khu dân cư.
Khu du lịch thuộc vùng núi và rừng núi còn rất thấp do chặt phá rừng bừa bãi. Đất
chưa sử dụng ở Hương Sơn chiếm tới 53%, đất cho nông nghiệp chiếm 24.5% . Điều
này chứng tỏ tài nguyên đất ởđây đang được sử dụng một cách lãng phí.
* Sinh vật
Sinh vật của khu Du lịch chùa Hương có diện tích 5130 hecta là một quần thể
núi rừng, núi đá nguyên sinh những thảm thực vật đa dạng phong phú. Rừng của
huyện MỹĐức thuộc rừng kín thường xanh, mưa ẩm nhiệt đới. Diện tích rừng toàn
huyện là 694 hecta bao gồm rừng tự nhiên và rừng thường.
12
Trước hết, khu vực này là nơi giao thoa của ba luồng thực vật : Bẵc - Việt Nam
- Indonêxia, Skim - Malayxia nên hệ thực vật kháđa dạng với đặc trưng cho hệ thực
vật đá vôi ở vùng thấp.
Theo điều tra thống kê sơ bộ thì nơi đây có khoảng 350 loài thảo mộc, thuộc 92
họ. ởđây có 6 ngành thực vật bặc cao đó là ngành lá thông, ngành tháp bút, ngành
thông đất, ngành dương xỉ, ngành hạt trần, ngành hạt kín. Trong rừng có nhiều loại gỗ
quý như : lát hoa, thông. bắch, lim …Có những cây cổ thụ sống lẻ loi như cây sang
(hoa phớt vàng, quả giống quả bồ kết). Tuy nhiên cây ởđây phần lớn là cây thứ
sinh :dẻ, gai, muồng,cây dây leo. Nhiều nhất là cây Quạch. Cũng có nhiều cây làm
thuốc như cây ổ rồng vàng chữa bệnh lành xương, củ khúc chữa bệnh tê thấp, củ sâm
làm thuốc bổ Ngoài ra có một lớp phủ thực vật dày đặc mọc ở các ngọn núi như lan,
cỏ tranh, cỏ vông tạo nên một bức tranh thiên nhiên tạo cảm giác khá hấp dẫn du
khách du lịch. Đặc biệt khi nói đến tài nguyên thực vật không thể không nhắc tới một
số loài cây quý, trong đó có một số loài đang có nguy cơ tuyệt chủng được đưa vào
“Sách Đỏ” của Việt Nam. Rừng núi nơi đây còn cung cấp cho con người những đặc
sản màít ởđâu cóđược như mơ Hương Tích, canh rau sắng, củ mài chùa Hương. Như
vậy khách dến đây không chỉ tham quan ngắm cảnh đẹp mà còn được thưởng thức
những món đặc sản của khu du lịch. Đây không chỉ là yếu tố thu hút một lượng
khách lớn mà còn tăng thêm nguồn thu cho người dân địa phương.
Nhìn chung hệđộng vật trong khu vực không đa dạng vê số lượng loài nhưng
xét về giá trị tài nguyên của động vật lại kháđộc đáo. Nơi đây có những dấu hiệu của
một số loài động vật quý hiếm vàđặc hữu. Qua điều tra sơ bộđã phát hiện thú thuộc
17 họ, 7 bộ; 88 loài chim thuộc 37 họ, 15 bộ và 35 loài bò sát thuộc 16 họ, 3 bộ ,
riêng về côn trùng đã liệt kêđược 56 loài. Rừng còn có những loại động vật quý hiếm
gà lôi trắng, trăn đất, hoa mai, báo gấm, voọc má trắng, ôrô vảy, kỳđà nước là những
loài được ghi vào sách đỏ của Việt nam và thế giới
1.3.1.6. Đánh giá chung về tài nguyên Du lịch tự nhiên.
- Khu Du lịch chùa Hương thuộc vùng núi Hương Sơn - MỹĐức - Hà Tây và
13
nằm cách Hà Nội không xa trên trục đường giao thông thuận tiện nên có vị tríđịa lý
thuận lợi cho phát triển Du lịch.
Do đặc điểm cấu tạo địa chất nên địa hình ở khu vực kháđa dạng, phong phú,
sinh động hấp dẫn du khách với những phong cảnh ngoạn mục.
Các điều kiện khí hậu, thời tiết tại khu vực tương đối thuận lợi cho sức khoẻ
của con người và các hoạt động Du lịch.
Môi trường sinh thái của khu vực kháđa dạng, phong phú phù hợp cho phát
triển du lịch sinh thái.
Tài nguyên đất của khu vực còn nhiều tiềm năng có thể mở rộng phát triển
dịch vụ cho hoạt động Du lịch.
- Ngoài ra một yếu tố làm tăng sức hấp dẫn đối với khách du lịch tạo một lợi
thế lớn cho du khách chính là mùa lễ hội diễn ra trong thời gian đầu năm khi công
việc còn chưa nhiều. Nhiều gia đình tới lễ hội trong tâm hồn thanh thản hy vọng một
ngày mai tốt đẹp hơn. Đặc biệt đây là thời điểm vẫn còn dưâm của đầu năm con
người vẫn quyến luyến sức xuân tươi đẹp
Như vậy, khu Du lịch chùa Hương là khu vực có tiềm năng tài nguyên du lịch
tự nhiên dồi dào nếu được quan tâm thích đáng và việc quản lý khai thác hợp lý thì
chắc chắn nơi đây sẽ làđiểm Du lịch hấp dẫn của nước ta và nổi tiếng trên thế giới.
1.3.2. Tài nguyên Du lịch nhân văn.
Huyện MỹĐức là một vùng văn hoáđặc sắc với các lễ hội và nếp sống thuần
khiết của nông thôn Việt Nam đặc biệt là vùng phía Nam huyện MỹĐức là một chiếc
nôi văn hoá, cội nguồn tâm linh vàđạo lý cổ truyền dân tộc. Một vùng đất Phật trong
lành nhiều huyền thoại, tín ngưỡng dân dã.
1.3.2.1. Lễ hội chùa Hương.
Lễ hội chùa Hương là tài nguyên nhân văn thu hút du khách không kém gì tài
nguyên thiên nhiên màđiêù hấp dẫn khách nước ngoài khi đến Việt nam là các lễ hội.
Đến đây họ có thể tìm hiểu về văn hoá, tập tục, tín ngưỡng của dân tộc ta. Trong
dịp hội hàng năm đã có tới 4 - 5 chục vạn lượt người vềđây vãn cảnh hành hương về
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét