Thứ Ba, 21 tháng 1, 2014

Một số giải pháp duy trì và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm tại Công ty TNHH Trang Bị Bảo Hộ Lao Động Hưng Thịnh .doc

Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: ThS. Phan Thị Mỹ Hạnh
1.1.2. Vai trò, nhiệm vụ của hoạt động tiêu thụ sản phẩm:
Đánh giá chung đúng tình hình tiêu thụ về mặt số lượng, chất lượng và mặt
hàng, đánh giá tính kịp thời của tiêu thụ.
Tìm ra những nguyên nhân và xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố
đến tình hình tiêu thụ.
Đề ra các biện pháp nhằm thúc đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ sản phẩm tăng khối
lượng sản phẩm tiêu thụ cả về mặt khối lượng lẫn mặt chất lượng.
Mục đích: Qua tiêu thụ sản phẩm không những thu được lợi nhuận mà còn
giúp công ty tái sản xuất mở rộng sản xuất.
Quan hệ Marketing và tiêu thụ sản phẩm:
Tiêu thụ sản phẩm nhiều hay ít phụ thuộc rất nhiều về chính sách Marketing
của công ty và chính sách Marketing thực hiện chính là nhằm tiêu thụ sản phẩm. Qua
tiêu thụ các thông tin phản hồi sẽ được bộ phận Marketing xử lý để đưa ra chính sách
phù hợp hơn.
1.1.3. Yêu cầu đối với hoạt động tiêu thụ sản phẩm.
Hoạt động tiêu thụ sản phẩm có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với hoạt động
sản xuất kinh doanh của một số doanh nghiệp sản xuất. Hoạt động tiêu thụ của doanh
nghiệp có thuận lợi, có thu được hiệu quả thì vốn của doanh nghiệp mới được quay
vòng nhanh, mới có hiệu quả, hoạt động sản xuất của doanh nghiệp mới có thể diễn
ra một cách liên tục và đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp. Do vậy, đối với hoạt
động tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp cũng có những yêu cầu cụ thể sau đây :
- Hoạt động tiêu thụ sản phẩm phải được tiến hành một cách nhanh nhất, thuận
lợi nhất, an toàn và đảm bảo sự ổn định về số lượng và chất lượng sản phẩm.
- Hoạt động tiêu thụ sản phẩm phải đảm bảo được tính lâu dài của mạng lưới
tiêu thụ sản phẩm.
- Đảm bảo tiêu thụ nhanh chóng sản phẩm và đảm bảo thời gian thu hồi vốn
nhanh nhất.
SVTH : Võ Trung Kiên Trang 5
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: ThS. Phan Thị Mỹ Hạnh
- Đảm bảo uy tín và chất lượng của nhà sản xuất đối với người tiêu dùng thông
qua các chính sách hậu mãi và tiếp thị sản phẩm.
1.2. Nội dung của hoạt động tiêu thụ sản phẩm.
1.2.1. Nghiên cứu và dự báo thị trường:
Trong kinh doanh muốn kinh doanh lĩnh vực nào thì phải tìm hiểu rõ những
yếu tố văn hoá, xã hội con người ở nơi mà trong đó diễn ra hoạt động sản xất kinh
doanh của doanh nghiệp. Nghiên cứu nhu cầu thị trường thực chất là tìm hiểu nhu
cầu, thị hiếu sức mua của người tiêu dùng để xác định đâu là thị trường trọng điểm
đâu là thị trường tiềm năng của công ty, việc xác định này là vô cùng quan trọng
trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Vì vậy việc nghiên cứu nhu cầu thị trường là
khâu đầu tiên của quá trình kinh doanh, đó là việc tìm kiếm và khai thác cơ hội kinh
doanh xuất hiện trên thị trường. Mục đích của việc nghiên cứu nhu cầu thị trường là
xác định khả năng bán một loại mặt hàng hoặc một nhóm mặt hàng trên thị trường.
Nếu ta xác định thị trường quá hẹp thì có thể làm cho công ty bỏ lỡ thời cơ kinh
doanh. Còn nếu ta xác định thị trường quá rộng thì sẽ làm cho các nỗ lực và tiềm
năng của công ty bị lãng phí làm cho sản xuất kinh doanh kém hiệu quả. Thị trường
thích hợp với doanh nghiệp là thị trường phù hợp với mục đích và khả năng của
doanh nghiệp. Do vậy việc nghiên cứu thị trường có ý nghĩa rất quan trọng đối với
tiêu thụ sản phẩm.
1.2.2. Lập kế hoạch tiêu thụ sản phẩm.
1.2.2.1. Chính sách sản phẩm:
Để có được chiến lược sản phẩm đúng đắn bên cạnh việc tìm hiểu các nhu cầu
về thị trường và khả năng đáp ứng của doanh nghiệp thì doanh nghiệp phải nghiên
cứu kỹ chính sách sản phẩm hợp lý thì mới nâng cao được hiệu quả sản phẩm kinh
doanh, hạn chế rủi ro tốt nhất. Chính sách sản phẩm là nền móng cho quá trình phát
triển kinh doanh. Bởi vì nếu chính sách sản phẩm không đảm bảo một sự tiêu thụ
chắc chắn thì những hoạt động trên có thể bị thất bại.
SVTH : Võ Trung Kiên Trang 6
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: ThS. Phan Thị Mỹ Hạnh
Khi nói đến chính sách sản phẩm thì cần phải phân tích chu kỳ sống của sản
phẩm: Một chu kỳ sống của sản phẩm thông thường phải trải qua bốn giai đoạn: thâm
nhập – tăng trưởng – chín muồi – suy thoái. Chu kỳ sống của bất cứ sản phẩm nào
cũng gắn với một thị trường nhất định. Bởi vì sản phẩm có thể đang ở giai đoạn suy
thoái ở thị trường này nhưng có thể đang ở giai đoạn phát triển của thị trường khác.
Việc nghiên cứu chu kỳ sống của sản phẩm giúp công ty hành động trong lĩnh vực
tiếp thị một cách hiệu quả nhằm kéo dài hơn chu kỳ sống của sản phẩm, tăng lợi
nhuận mà một sản phẩm đem lại cho công ty toàn bộ đời sống của nó.
Nghiên cứu phân tích chu kỳ sống của sản phẩm hiểu biết tỉ mỉ vấn đề này có
ý nghĩa quan trọng đối với các nhà kinh doanh. Vì nó giúp cho các nhà kinh doanh
hiểu biết được bản chất của vấn đề phát triển sản phẩm mới từ đó tìm mọi cách nâng
cao lợi nhuận giảm thiểu rủi ro.
1.2.2.2 Chính sách giá cả:
Việc quy định mức giá bán cho một sản phẩm của doanh nghiệp sản xuất kinh
doanh gọi là chính sách giá. Việc định giá sản phẩm là một quyết định quan trọng đối
với doanh nghiệp vì giá cả sản phẩm luôn được gọi là công cụ mạnh mẽ hữu hiệu
trong sự cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường.
Xác định giá cả cho hàng hóa là một quá trình gồm 6 bước:
+ Bước 1 : Công ty xác định mục tiêu hay những mục tiêu marketing của
mình như: đảm bảo sống sót, tăng tối đa lợi nhuận trước mắt, giành vị trí dẫn đầu về
thị phần hay chất lượng sản phẩm hàng hóa.
+ Bước 2 : Công ty xây dựng cho mình đồ thị đường cầu thể hiện số lượng
hàng hóa chắc chắn sẽ bán được trên thị trường trong một khoảng thời gian cụ thể
theo các mức giá khác nhau.
+ Bước 3 : Công ty tính toán xem tổng chi phí của mình thay đổi như thế
nào khi mức sản xuất khác nhau.
+ Bước 4 : Công ty nghiên cứu mức giá của các đối thủ cạnh tranh để sử
dụng chúng làm căn cứ để xác định vị trí giá cả cho hàng hóa của mình.
SVTH : Võ Trung Kiên Trang 7
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: ThS. Phan Thị Mỹ Hạnh
+ Bước 5 : Công ty lựa chọn cho mình một trong những phương pháp hình
thành giá sau: chi phí bình quân cộng lãi, phân tích điều kiện hòa vốn và đảm bảo lợi
nhuận mục tiêu, xác định giá căn cứ vào giá trị cảm nhận của hàng hóa, xác định giá
trên cơ sở giá hiện hành.
+ Bước 6 : Công ty quyết định giá cuối cùng cho hàng hóa có lưu ý đến sự
chấp nhận về mặt tâm lý đối với sản phẩm đó và nhất thiết phải kiểm tra xem giá đó
có phù hợp với những mục tiêu của chính sách giá cả mà công ty đang thi hành
không và những người phân phối, những nhà kinh doanh, các đối thủ cạnh tranh,
những người cung ứng, khách hàng có chấp nhận nó hay không.
1.2.2.3. Chính sách giao tiếp khuyếch trương:
Đây cũng là một trong những chính sách quan trọng về tiêu thụ sản phẩm của
doanh nghiệp. Mỗi khi có một sản phẩm mới ra đời, doanh nghiệp cần phải có một
chính sách khuyếch trương quảng cáo cho sản phẩm một cách có hiệu quả để sản
phẩm có thể đến được nhu cầu tiêu dùng của người tiêu dùng. Một sản phẩm có thể
tiêu thụ một cách có hiệu quả là sản phẩm mang lại cho người tiêu dùng cảm giác
quen thuộc và sẽ nghĩ ngay đến sản phẩm đó khi có nhu cầu sử dụng. Chính sách
giao tiếp khuyếch trương sản phẩm chính là các chính sách về giới thiệu, quảng cáo
và tiếp thị sản phẩm đến với người tiêu dùng. Do vậy, khi bất kì một sản phẩm mới
nào bắt đầu được tung ra thị trường thì ngoài việc xây dựng các chính sách về giá,
chính sách phân phối, chính sách về sản phẩm để có thể cạnh tranh với các sản phẩm
khác và tồn tại trên thị trường thì các nhà quản trị cũng cần phải xây dựng một chính
sách giao tiếp khuyếch trương, tiếp thị, quảng cáo cho sản phẩm đến được với người
tiêu dùng.
1.2.2.4. Chính sách phân phối:
Phân phối là toàn bộ các công việc để đưa một sản phẩm hoặc dịch vụ từ nơi
sản xuất đến người tiêu dùng có nhu cầu đảm bảo về chất lượng thời gian, số lượng,
chủng loại mà người tiêu dùng mong muốn.
SVTH : Võ Trung Kiên Trang 8
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: ThS. Phan Thị Mỹ Hạnh
Kênh phân phối là con đường mà hàng hóa được lưu thông từ các nhà sản xuất
đến người tiêu dùng, nhờ nó mà khắc phục được những ngăn cách dài về thời gian
địa điểm và quyền sở hữu giữa người sản xuất với người tiêu dùng. Do vậy mỗi
doanh nghiệp cần phải tìm ra kênh phân phối hiệu quả nhất cho mình.
Bảng 1.1 : Sơ đồ kênh phân phối sản phẩm.
Các kênh phân phối được phân loại theo số cấp cấu thành chúng.
Kênh không cấp ( kênh tiêu thụ trực tiếp): Gồm các nhà sản xuất bán hàng
trực tiếp cho người tiêu dùng. Phương thức bán là bán tại công ty, bán lưu động.
Kênh một cấp: Bao gồm một người trung gian. Trên các thị trường người tiêu
dùng người trung gian này thường là người bán lẻ. Còn trên thị trường hàng tư liệu
sản xuất thì người trung gian là người đại lý tiêu thụ hay người mô giới.
Kênh hai cấp: Bao gồm hai người trung gian. Trên thị trường thì những người
này thường là người bán sỉ và người bán lẻ.
Kênh ba cấp : Bao gồm ba nhà trung gian.
Đối với kênh tiêu thụ trực tiếp do trực tiếp quan hệ với người tiêu dùng và thị
trường nên để nắm bắt được thị hiếu, tình hình tiêu thụ hàng hóa từ đó dễ tạo uy tín
với khách hàng. Phương thức phân phối trực tiếp diễn ra chậm, công tác thanh toán
phức tạp, doanh nghiệp là người chịu rủi ro.
SVTH : Võ Trung Kiên Trang 9
Nhà SX
Nhà SX
Nhà SX
Nhà SX
Người bán sĩ Người bán lẻ
Người TD
Người bán lẻ Người TD
Người TD
Người bán
sĩ lớn
Ngưởi bán
sỉ nhỏ
Người bán
lẻ
Người TD
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: ThS. Phan Thị Mỹ Hạnh
Đối với kênh tiêu thụ gián tiếp thì việc phân phối diễn ra nhanh chóng, công
tác thanh toán đơn giản. Nếu xảy ra rủi ro thì sau khi giao hàng các tổ chức trung gian
phải chịu trách nhiệm. Mặc dù vậy ở kênh gián tiếp này công ty không quan hệ trực
tiếp với thị trường, với người tiêu dùng nên rất khó kiểm tra đánh giá phản hồi từ
phía khách hàng.
1.3. Vai trò của việc duy trì và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm trong doanh
nghiệp.
1.3.1. Thế nào là duy trì và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm.
Duy trì và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm là việc duy trì và mở rộng nơi
trao đổi, mua bán hàng hoá và dịch vụ, thực chất nó là giữ vững và tăng thêm khách
hàng của doanh ngiệp.
Mở rộng thị trường theo chiều rộng nghĩa là lôi kéo khách hàng mới, khách
hàng theo vùng địa lý, tăng doanh số bán với khách hàng cũ.
Mở rộng thị trường theo chiều sâu nghĩa là phân đoạn cắt lớp thị trường để
thoả mãn nhu cầu muôn hình, muôn vẻ của con người. Mở rộng theo chiều sâu là qua
sản phẩm để thoả mãn từng lớp nhu cầu, để từ đó mở rộng theo vùng địa lý. Đó là
vừa tăng số lượng sản phẩm bán ra, vừa tạo nên sự đa dạng về chủng loại sản phẩm
của doanh nghiệp trên thị trường. Đó là việc mà doanh nghiệp giữ vững, thậm chí
tăng số lượng sản phẩm cũ đã tiêu thụ trên thị trường, đồng thời tiêu thụ được những
sản phẩm mới trên thị trường đó. Sự đa dạng về chủng loại mặt hàng và nâng cao số
lượng bán ra là mở rộng thị trường theo chiều sâu.
1.3.2. Duy trì và mở rộng thị trường tiêu thị sản phẩm là một tất yếu khách
quan đối với doanh nghiệp.
Trong điều kiện hiện nay, duy trì và mở rộng thị trường là khách quan đối với
các doanh nghiệp, là điều kiện để cho các doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển.
Trong kinh doanh, vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp thay đổi rất nhanh cho
nên mở rộng thị trường khiến cho doanh nghiệp tránh được tình trạng bị tụt hậu. Cơ
hội chỉ thực sự đến với các doanh nghiệp nhạy bén, am hiểu thị trường. Mở rộng thị
SVTH : Võ Trung Kiên Trang 10
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: ThS. Phan Thị Mỹ Hạnh
trường giúp doanh nghiệp đẩy mạnh tốc độ tiêu thụ sản phẩm, khai thác triệt để tiềm
năng của thị trường, nâng cao hiệu quả sản suất kinh doanh, tăng lợi nhuận và khẳng
định vai trò của doanh nghiệp trên thị trường. Cho nên duy trì và mở rộng thị trường
là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục của mỗi doanh nghiệp kinh doanh trên thị trường.
Bảng 1.2 : Cấu trúc thị trường sản phẩm A
Thị trường lý thuyết sản phẩm A: Tập hợp các đối tượng có nhu cầu
Thị trường tiềm năng của Doanh nghiệp sản phẩm A
Người không tiêu
dùng tuyệt đối
Thị trường hiện tại sản phẩm A
Người không tiêu
dùng tương đối
Thị trường các đối
thủ cạnh tranh
Thị trường của
Doanh nghiệp
Trên thực tế đã có nhiều ví dụ cụ thể về sự nỗ lực của doanh nghiệp trong duy
trì và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm. Coca và Pepsi là hai hãng sản suất nước
ngọt lớn trên thế giới, chiếm thị phần gần như tuyệt đối trong thị trường về nước
ngọt. Bao thập kỷ qua đã diễn ra sự cạnh tranh gay gắt giữa hai nhà sản xuất này. Kết
quả là có những lúc thị phần của Coca tăng còn Pepsi giảm và ngược lại. Qua nhiều
cuộc thử nghiệm trưng cầu ý kiến của khách hàng thì về chất lượng sản phẩm của hai
hãng này gần như tương đương nhau. Cho nên để cạnh tranh với nhau nhằm tăng thị
phần của mình, hai hãng này đã dành % chi phí lớn cho quảng cáo.
Mục đích của các hãng đó đều là giữ vững thị phần, thị trường đã có của
doanh nghiệp và mở rộng sang chiếm lĩnh phần thị trường của các đối thủ cạnh tranh
cùng ngành nhằm chinh phục thị trường hiện tại của sản phẩm và xa hơn nữa là mở
rộng phần thị trường tiềm năng của sản phẩm đó.
Tăng thêm phần thị trường, tức là tăng tỷ lệ phần trăm bộ phận thị trường
doanh nghiệp nắm giữ trên toàn bộ thị trường sản phẩm đó, là mục tiêu rất quan trọng
của doanh nghiệp. Duy trì và mở rộng thị trường làm rút ngắn thời gian sản phẩm
nằm trong quá trình lưu thông, do đó làm tăng tốc tốc độ tiêu thụ sản phẩm, góp phần
vào việc đẩy nhanh chu kỳ tái sản xuất mở rộng, tăng vòng quay của vốn, tăng lợi
nhuận. Tăng nhanh tốc độ tiêu thụ sản phẩm, khiến cho các doanh nghiệp có điều
SVTH : Võ Trung Kiên Trang 11
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: ThS. Phan Thị Mỹ Hạnh
kiện tăng nhanh tốc độ khấu hao máy móc thiết bị, giảm bớt hao mòn vô hình và do
đó có điều kiện thuận lợi hơn trong việc đổi mới kỹ thuật, ứng dụng kỹ thuật mới vào
sản xuất. Đến lượt nó kỹ thuật mới lại góp phần vào việc đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ
sản phẩm, duy trì và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm.
1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến tiêu thụ sản phẩm.
1.4.1. Nhóm nhân tố khách quan:
1.4.1.1. Nhu cầu của thị trường:
Thị trường là nhân tố quan trọng trong chiến lược phát triển sản xuất kinh
doanh của mỗi doanh nghiệp. Có thể nói, thị trường chính là môi trường sống của các
doanh nghiệp, doanh nghiệp sẽ không thể tồn tại nếu tách khỏi thị trường, hoạt động
trái với các quy luật phát triển của thị trường. Tuy nhiên, doanh nghiệp chỉ có thể
hoạt động dựa theo quy luật phát triển của thị trường mà không thể điều chỉnh thị
trường được, do vậy thị trường tiêu thụ chính là nhân tố khách quan điều chỉnh trực
tiếp, ảnh hưởng trực tiếp đến việc tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp. Bất kì một
doanh nghiệp nào khi đầu tư vào một loại sản phẩm đều phải xét đến nhu cầu của thị
trường để có những chính sách đầu tư hợp lí cho sản phẩm.
1.4.1.2. Đối thủ cạnh tranh:
Hoạt động trong cơ chế thị trường đòi hỏi các doanh nghiệp phải quan tâm
đến các đối thủ cạnh tranh. Đối thủ cạnh tranh là người đang chiếm giữ một phần thị
phần và giành giật một phần khách hàng của doanh nghiệp. Do vậy doanh nghiệp cần
phải tìm cách để nắm bắt, phân tích các thông tin về đối thủ như: Chính sách giá,
chính sách phân phối, chính sách sản phẩm v.v… từ đó có các biện pháp phù hợp.
1.4.1.3. Các điều kiện tự nhiên, địa lí…
Các điều kiện địa lí, tự nhiên… ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình vận chuyển
và tiêu thụ sản phẩm. Điều kiện tự nhiên, thiên nhiên sẽ quyết định chi phí vận
chuyển của hàng hoá, do đó ảnh hưởng đến giá thành cuối cùng của sản phẩm và sức
cạnh tranh của sản phẩm so với các đối thủ cạnh tranh. Đồng thời, các điều kiện tự
nhiên cũng sẽ làm cho chi phí quảng cáo và tiếp thị sản phẩm đến tay người tiêu dùng
SVTH : Võ Trung Kiên Trang 12
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: ThS. Phan Thị Mỹ Hạnh
tăng lên do đó sẽ làm cho quy mô và hiệu quả của hoạt động tiếp thị sản phẩm sẽ
giảm.
1.4.2. Nhóm nhân tố chủ quan:
Những nguyên nhân thuộc về bản thân công ty ảnh hưởng đến tình hình tiêu
thụ bao gồm : Giá, chất lượng sản phẩm, công tác tiếp cận thị trường, tổ chức tiêu thụ
v.v…
Công tác tổ chức tiêu thụ: Bao gồm các khâu khác nhau từ việc thiết kế mạng
lưới tiêu thụ, quảng cáo khuyến mãi… Nếu công tác tổ chức tiêu thụ không tốt sẽ làm
ảnh hưởng tiêu cực đến toàn bộ quá trình kinh doanh. Và ngược lại nếu tổ chức tốt
thì công ty sẽ tiêu thụ nhiều sản phẩm hơn, doanh thu tăng, vòng quay vốn lưu động
tăng, giảm chi phí dự trữ bảo quản… Vì vậy công ty cần lựa chọn tổ chức tiêu thụ
sao cho phù hợp với đặc tính của sản phẩm và quy mô sản xuất. Bên cạnh đó công ty
còn tổ chức các hoạt động hỗ trợ như: Quảng cáo, khuyến mãi, dịch vụ sau bán hàng,
hội họp để tạo dựng lòng tin của khách hàng đối với công ty.
1.5. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động tiêu thụ sản phẩm của doanh
nghiệp.
1.5.1. Lượng sản phẩm tiêu thụ:
Đối với doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, lượng sản phẩm tiêu thụ là những
sản phẩm đã xuất kho thành phẩm để giao cho khách hàng và đã nhận được tiền. Xác
định lượng sản phẩm trong năm phải căn cứ vào sản lượng sản xuất của sản phẩm,
hợp đồng kinh tế ký kết với khách hàng, nhu cầu thị trường, khả năng đổi mới
phương thức thanh toán và tình hình tiêu thụ sản phẩm tiêu thụ của năm trước.
Lượng sản phẩm tiêu thụ kỳ kế hoạch của doanh nghiệp được xác định theo
công thức:
Q
kh
= Q- Q
1
- Q
2
Trong đó :
Q
kh
: Lượng sản phẩm dự kiến tiêu thụ kỳ kế hoạch.
SVTH : Võ Trung Kiên Trang 13
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: ThS. Phan Thị Mỹ Hạnh
Q : Khối lượng sản phẩm sản xuất kỳ kế hoạch.
Q
1
: Lượng sản phẩm sản xuất tồn kho đầu kỳ.
Q
2
: Lượng sản phẩm sản xuất tồn kho cuối kỳ.
1.5.2. Doanh thu :
Doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có khoản thu nhận lớn nhất và thường
xuyên là doanh thu bán hàng hóa và dịch vụ hay còn gọi là doanh số bán hàng của
doanh nghiệp.
Điều quan trọng đối với doanh nghiệp là bán được hàng hóa, thu hút được
nhiều khách hàng và mở rộng được thị trường. Sự đa dạng hóa hàng hóa và dịch vụ
cho phép mở rộng được nhu cầu của khách hàng, thỏa mãn nhu cầu nhiều vẻ và đa
dạng của khách hàng, cho phép tăng được số lượng hàng hóa và dịch vụ bán ra.
Doanh thu của doanh nghiệp được xác định theo công thức :
TR= Σ Q
i
x P
i
Trong đó :
TR : Doanh thu của doanh nghiệp.
Q
i
: Khối lượng hàng hóa, dịch vụ i.
P
i
: Giá cả hàng hóa dịch vụ i.
Doanh thu của doanh nghiệp phụ thuộc vào khối lượng hàng hóa, dịch vụ bán
ra và phụ thuộc vào giá cả hàng hóa, dịch vụ đó. Trong cơ chế thị trường nếu khối
lượng hàng hóa dịch vụ bán ra càng nhiều thì giá cả hàng hóa dịch vụ sẽ hạ xuống và
ngược lại theo quy luật cung cầu. Vì vậy đối với mỗi loại hàng hóa dịch vụ trên mỗi
thị trường cần phải tính toán doanh thu biên (MR) bằng chi phí biên (MC). MR =
MC.
Từ đó mới quyết định lượng cung hàng hóa và dịch vụ. Khối lượng hàng hóa
dịch vụ bán ra của doanh nghiệp nhiều hay ít, giá cả cao hay thấp còn phụ thuộc chủ
yếu vào chất lượng hàng hóa nhu cầu của khách hàng dung lượng thị trường, địa
điểm bán hàng, phương thức phân phối và bán hàng.
1.5.3. Lợi nhuận và mức doanh lợi :
SVTH : Võ Trung Kiên Trang 14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét