Thứ Ba, 21 tháng 1, 2014

KTTT định hướng XHCN

Đề tài: Nền Kinh tế thị trờng định hớng XHCN ở nớc ta hiện nay
Lời giới thiệu
Từ năm 1975, khi cả nớc độc lập. Cách mạng dân tộc dân chủ hoàn thành
trên phạm vi cả nớc thì cả nớc cùng tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa xã
hội. Đảng ta đã chủ trơng giữ vững quan điểm cũng nh con đờng mà chủ tịch
Hồ Chí Minh đã lựa chọn là tiến lên chủ nghĩa xã hội, quyết tâm đa đất nớc trở
thành một nớc giàu mạnh về kinh tế, ổn định về kinh tế chính trị, xã hội công
bằng văn minh. Để đạt đợc nh vậy, Đảng ta đã chủ trơng phải u tiên phát triển
kinh tế và coi đó là vấn đề sống còn và một trong số đó là xây dựng kinh tế thị
trờng định hớng xã hội chủ nghĩa.
Trên thực tế vấn đề nhà nớc và thị trờng là mối quan tâm hàng đầu của
nhiều nhà kinh tế trong nhiều thập kỷ qua. Do đó mà ở nớc ta cũng nh các nớc
khác trên thế giới muốn tìm tòi mô hình quản lý kinh tế vĩ mô thích hợp và hiệu
quả hơn. Trong báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ơng khoá VIII trình
đại hội IX của Đảng ta có đề cập : Nhà nớc quản lý kinh tế bằng pháp luật,
chiến lợc, qui hoạch, kế hoạch, chính sách nhằm phát huy mặt tích cực, hạn chế
mặt tiêu cực của nền kinh tế thị trờng, bảo vệ lợi ích của nhân dân lao động
Chính vì vậy mà xây dựng nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ
nghĩa là một yếu tố tất yếu cơ bản của quá trình đổi mới quản lý kinh tế ở nớc
ta, và nhờ có đờng lối đúng đắn kinh tế nớc ta đã thoát khỏi những khủng hoảng
đạt tốc độ tăng trởng nhanh, đời sống nhân dân đợc cải thiên đáng kể, chính trị
xã hội ổn định, quốc phòng an ninh quốc gia đợc giữ vững. Nớc ta từ một nứoc
có nên kinh tế quan liêu, bao cấp đã từng bớc chuyển sang nền kinh tế thị trờng
định hớng xã hội chủ nghĩa dựa trên quy luật giá trị và tín hiệu cung cầu của thị
trờng.
Đề tài: Nền Kinh tế thị trờng định hớng XHCN ở nớc ta hiện nay
I/ Nghiên cứu cơ sở lý luận về nền kinh tế định hớng Xã
hội chủ nghĩa ở nớc ta:
1) Khái niệm về nền kinh tế thị trờng:
Theo quan điểm của Samuelson trích trong kinh tế học thì: Một nền
kinh tế thị trờng là một cơ chế tinh vi để phối hợp một cách không tự giác nhân
dân và doanh nghiệp thông qua hệ thống giá cả và thị trờng. Nó là một phơng
tiện giao thông để tập hợp tri thức và hành động của hàng triệu cá nhân khác
nhau, không có bộ não trung tâm nó vẫn giải đợc bài toán mà máy tính lớn nhất
hiện nay cũng không thể giải nổi. Không ai thiết kế ra nó. Nó tự xuất hiện và nó
đang thay đổi cũng nh xã hội loài ngời.
Theo quan điểm của đảng ta, một nền kinh tế mà trong đó những vấn đề
cơ bản của nó do thị trờng quyết định đợc xem là nền kinh tế thị trờng. Nói
cách khác nền kinh tế thị trờng chính là nền kinh tế hàng hoá chịu sự điều khiển
của cơ chế thị trờng. Nền kinh tế này khác với nền tập trung ở chủ thể xác định
các vấn đề cơ bản của nền kinh tế mà nền kinh tế tập trung chủ thể này là nhà n-
ớc thông qua các mệnh lệnh hành chính. Chính sự khác biệt này tạo ra sức
mạnh và là động lực cho nền kinh tế phát triển.
Tại Việt Nam kể từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, chúng ta đã xác
định xây dựng nền kinh tế thị trờng nhng theo định hớng xã hội chủ nghĩa. Tức
là có sự can thiệp của nhà nớc vào nền kinh tế nhng không phải can thiệp vào
nền kinh tế theo kiểu mệnh lệnh hành chính mà can thiệp thông qua các chính
sách kinh tế vĩ mô nhằm ổn định nền kinh tế và tạo điều kiện cho mọi thành
phần kinh tế tham gia vào sản xuất và kinh doanh. Sự can thiệp này đợc xem là
cần thiết nhằm thiết lập khuôn khổ pháp luật phù hợp, sữa chữa những khuyết
tật của thị trờng, đảm bảo sự công bằng xã hội và ổn định nền kinh tế vĩ mô
( Kinh tế học Samuelson). Đây là lý thuyết nền kinh tế hỗn hợp đã đợc
Samuelson đa ra/ Theo ông phát triển kinh tế phải dựa trên hai bàn taylà cơ chế
Đề tài: Nền Kinh tế thị trờng định hớng XHCN ở nớc ta hiện nay
thị trờng và nhà nớc: điều hành một nền kinh tế không có cả chính phủ lẫn thị
trờng thì cũng nh định vỗ bằng một bàn tay. Tuy nhiên trong hoàn cảnh nớc ta
thì sự can thiệp của nhà nớc còn đóng vai trò giữ cho nền kinh tế đi theo đúng
định hớng xã hội chủ nghĩa.
2) Sự cần thiết tồn tại kinh tế thị trờng:
Việt Nam đang tồn tại đủ các điều kiện cần thiết là cơ sở tồn tại của nền
kinh tế hàng hoá. Phân công lao động đang phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều
sâu. nhiều ngành nghề mới đã ra đời, đặc biệt là những ngành công nghiệp có
hàm lợng kỹ thuật kết tinh trong sản phẩm cao nh điện tử, tin học Bên cạnh
đó các làng nghề cổ truyền cũng đang phát triển mạnh mẽ. Các sản phẩm của
ngành đang từng bớc khẳng định thơng hiệu trên thị trờng trong nớc và quốc tế.
Đây chính là những thế mạnh củaViệt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế thế
giới.Sự phát triển này đã kéo theo sự phát triển nhanh chóng của lực lợng sản
xuất.
Kể từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần VI. Việt Nam đã chính thức thừa
nhận sự tồn tại của các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh. Nhờ đó các thành
phần kinh tế này đã có những điều kiện cần thiết để phát triển. Từ đó xuất hiện
sự khác biệt giữa các hình thức sở hữu về t liệu sản xuất và sản phẩm lao động.
Đây chính là điều kiện đủ để nền kinh tế hành hoá có cơ sở ra đời. Khác biệt về
sở hữu về t liệu sản xuất và sản phẩm lao động đã tạo ra động lực to lớn để thúc
đẩy kinh tế phát triển mặc dù mặt trái của nó là sự phân hoá về giàu và nghèo.
Sau một thời gian dài duy trì cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung đã đến
lúc chúng ta cần một sự chuyển đổi để phát triển kinh tế. Cơ chế thị trờng với
những u thế không thể chối cãi là một sự lựa chọn hợp lý và cần thiết. Cơ chế
quản lý cũ cồng kềnh, kém năng lực đã không còn phù hợp với tình hình trong
nớc và quốc tế. Những căn bệnh đặc trng của cơ chế cũ nh bảo thủ, trì trệ, kém
năng lực hình thành nên bộ máy quản lý thiếu chuyên môn nghiệp vụ nhng lại
có thái độ quan liêu, cửa quyền cần phải đợc thay đổi. Thực tế cho thấy trải qua
Đề tài: Nền Kinh tế thị trờng định hớng XHCN ở nớc ta hiện nay
gần hai mơi năm đổi mới gây dựng nhng chúng ta vẫn phải thực hiện các cuộc
chỉnh đốn Đảng, cải cách bộ máy hành chính chứng tỏ những quan niệm cũ sai
lầm đã ăn sâu bám rễ nh thế nào. Việc xoá bỏ hoàn toàn không dễ dàng, không
thể hoàn thành trong một sớm một chiều nhng đó là việc cần thiết để thúc đẩy
kinh tế phát triển. Cùng với cơ chế cũ cũng là sự bất cập khi nhà nớc can thiệp
quá sâu vào sản xuất kinh doanh,
điều hành không tuân theo các qui luật kinh tế mà theo cảm tính dẫn đến
sự thất bại trong thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội đã đề ra. Chuyển sang cơ
chế mới sẽ tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế phát triển theo đúng những
qui luật kinh tế khách quan.
Thực tiễn những năm đổi mới chỉ ra rằng việc chuyển đổi sang mô hình
kinh tế thị trờng của Đảng ta là hoàn toàn đúng đắn. Nhờ mô hình kinh tế đó
chúng ta đã bớc đầu khai thác đợc tiềm năng trong nớc đi đôi với thu hút vốn và
kỹ thuật nớc ngoài, giải phóng đợc năng lực sản xuất trong xã hội, phát triển lực
lợng sản xuất, góp phần quyết định bảo đảm nhịp độ tăng trởng GDP bình quân
hằng năm trong những năm 2000 là 7%. Trong đó nông nghiệp phát triển liên
tục, đặc biệt là sản xuất lơng thực đa Việt Nam trở thành nớc thứ ba trên thế
giới về xuất khẩu lơng thực. Giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân hàng
năm 13,5%. Hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật và xã hội đợc tăng cờng. Đời
sống nhân dân đợc cải thiện, nâng cao tích luỹ xã hội, tạo tiền đề cho sự phát
triển trong tơng lai.
3) Bản chất kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa:
Nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa ở nớc ta có một số điểm
nh sau:
Thứ nhất , quá trình chuyển nền kinh tế nớc ta sang nền kinh tế thị trờng
đồng thời cũng là quá trình thực hiện nền kinh tế mở, nhằm hoà nhập với thị
trờng thế giới.
Đề tài: Nền Kinh tế thị trờng định hớng XHCN ở nớc ta hiện nay
Thứ hai, bản chất của quá trình chuyển nền kinh tế nớc ta sang nền kinh
tế thị trờng theo định hớng xã hội chủ nghĩa là quá trình chuyển nền kinh tế còn
mang nặng tính chất tự cung tự cấp sang nền kinh tế hàng hoá tiến tới nền kinh
tế thị trờng và qua trình chuyển cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế
thị trờng có sự quản lý của nhà nớc.
Sự phát triển của chủ nghĩa t bản đã khẳng định nền kinh tế hàng hoá đã
làm cho thị trờng dân tộcgắn bó và hoà nhập với thị trờng thế giới, Chính giao l-
u hàng hoá đã làm cho quan hệ quốc tế đợc mở rộng khỏi phạm vi quốc gia,
thúc đẩy nền kinh tế phát triển một cách nhanh chóng.
Trong quan hệ quốc tế chúng ta có nhiều đổi mới quan trọng. Chúng ta đã
chuyển quan hệ quốc tế từ đơn phơng sang đa phơng, quan hệ với tất cả các nớc
không phân biệt chế độ chính trị, theo nguyên tắc đôi bên cùng có lợi và không
can hệ vào chuyện nội bộ của nhau.
4) Đặc trng của kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa ở
nớc ta:
Mục đích của nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa là phát
triển lực lợng sản xuất, phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật
của chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống nhân dân lao động và tất cả các thành
viên trong xã hội. Phát triển lực lợng sản xuất hiện đại gắn liền với xây dựng
quan hệ sản xuất mới phù hợp trên cả ba mặt: sở hữu, quản lý và phân phối.
Về sở hữu sẽ phát triển theo hớng còn tồn tại nhiều hình thức sở hữu khác
nhau, nhiều thành phần kinh tế khác nhau trong đó kinh tế nhà nớc giữ vai trò
chủ đạo. Tiêu chuẩn căn bản để đánh giá hiệu quả xây dựng quan hệ sản xuất
theo định hớng xã hội chủ nghĩa là thúc đẩy phát triển lực lợng sản xuất, cải
thiện đời sống nhân dân và thực hiện công bằng xã hội nên phải từng bớc xác
lập và phát triển chế độ sở hữu công cộng về t liệu sản xuất chủ yếu một cách
vững chắc, tránh nóng vội xây dựng ồ ạt mà không tính đến hiệu quả nh trớc
đây.
Đề tài: Nền Kinh tế thị trờng định hớng XHCN ở nớc ta hiện nay
Về quản lý trong kinh tế thị trờng địng hớng xã hội chủ nghĩa phải có sự
quản lý của nhà nớc xã hội chủ nghĩa. Nhà nớc xã hội chủ nghĩa sẽ quản lý nền
kinh tế bằng pháp luật, chiến lợc, kế hoạch, chính sách đồng thời sử dụng cơ
chế thị trờng, các hình thức kinh tế và phơng thức quản lý kinh tế thị trờng để
kích thích sản xuất, giải phóng sức sản xuất, phát huy tính tích cực và hạn chế
những mặt tiêu cực, khuyết tật của cơ chế thị trờng, bảo vệ lợi ích nhân dân lao
động và toàn thể quần chúng nhân dân.
Về phân phối kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa thực hiện phân
phối chủ yếu theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế, đồng thời phân phối
theo mức đóng góp vốn và các nguồn lực khác vào sản xuất kinh doanh và
thông qua phúc lợi xã hội. Cơ chế phân phối này vừa tạo động lực kích thích các
chủ thể kinh tế nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, đông thời hạn
chế những bất công trong xã hội.Thực hiện tăng trởng kinh tế gắn liền với công
bằng xã hội ngay trong từng bớc phát triển.
Tính định hớng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trờng nớc ta còn thể
hiện ở chỗ tăng trởng kinh tế phải đi đôi với phát triển văn hoá, giáo dục xây
dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, làm cho chủ
nghĩa Mác Lênin, t tởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh
thần của nhân dân, nâng cao dân trí, giáo dục và đào tạo con nguời, xây dựng và
phát triển nguồn nhân lực của đất nớc.
Chủ trơng xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trờng, định hớng xã hội
chủ nghĩa có sự quản lý của nhà nớc thể hiện trình độ t duy và vận dụng của
Đảng ta về qui luật sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ
phát triển của lực lợng sản xuất. Đây là mô hình kinh tế tổng quát của nớc ta
trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
II/Thực trạng việc hình thành và phát triển nền kinh tế
thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa ở nớc ta:
Đề tài: Nền Kinh tế thị trờng định hớng XHCN ở nớc ta hiện nay
1)Trớc đổi mới:

Từ năm 1975 đất nớc Việt Nam hoàn toàn độc lập và thống nhất, cách
mạng Việt Nam hoàn toàn chuyển sang giai đoạn mới, cả nớc xây dựng chủ
nghĩa xã hội. Đất nớc đi lên chủ nghĩa xã hội từ điểm xuất phát rất thấp lại chịu
ảnh hởng nặng nề do chiến tranh kéo dài. Trong 15 năm nhân dân ta đã không
ngừng phấn đấu vựot qua bao khó khăn thử thách mới giành đợc độc lập thống
nhất đất nớc. Chúng ta đã có nhiều cố gắng trong việc hàn gắn vết thơng chiến
tranh, khôi phục nền kinh tế bị tàn phá nặng nề, từng bớc xác lập quan hệ sản
xuất mới bớc đầu xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, phát
triển sự nghiệp văn hoá giáo dục y tế, thiết lập củng cố chính quyền nhân dân
trong cả nớc. Tuy nhiên, nền kinh tế vẫn ở trong tình trạng kém phát triển, sản
xuất nhỏ là phổ biến và nặng nề tính tự cung tự cấp. Trình độ
trang thiết bị kỹ thuật trong sản xuất cũng nh trong kết cấu hạ tầng kinh
tế văn hoá xã hội lạc hậu, mất cân đối, cha tạo đợc tích luỹ trong nớc và lệ
thuộc nhiều vào bên ngoài. Cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp để lại
nhiều hậu quả tiêu cực do đó nền kinh tế hoạt động với hiệu quả thấp.
Khủng hoảng kinh tế xã hội diễn ra nhiều với đặc trng sản xuất chậm và
không ổn định, lạm phát lên đến 774,7% năm 1986. Tài nguyên thiết bị lao
động và tài năng mới đợc sử dụng thấp. Đời sống nhân dân thiếu thốn, nếp sống
văn hoá tinh thần và đạo đức kém lành mạnh, trật tự an toàn xã hội không đợc
đảm bảo, tham nhũng nhiều và tệ nạn xã hội phát triển.
Trên thực tế nền kinh tế nớc ta từ nghị quyết hội nghị lần thứ 6 ban chấp
hành Trung ơng khoá IV (năm 1979) các quan hệ hàng hoá tiền tệ đã đợc chấp
nhận nhng mới ở mức độ thứ yếu. Đó là do qua nhiều thập kỷ qua, t tởng kinh tế
xã hội chủ nghĩa mang nặng thành kiến coi quan hệ hàng hoá và cơ chế thị tr-
ờng là biểu hiện thuộc tính của chế độ t hữu và t bản. Mặt khác là do chúng ta
xây dựng chủ nghĩa xã hội theo mô hình dập khuôn giáo điều chủ quan duy ý
chí các mặt bố trí cơ cấu kinh tế thiếu về phát triển công nghiệp nặng, quy mô
lớn với xoá bỏ các hình thức kinh tế dựa trên chế độ t hữu về t liệu sản xuất,
Đề tài: Nền Kinh tế thị trờng định hớng XHCN ở nớc ta hiện nay
phát triển kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể, nặng nề hình thức phủ nhận
nền kinh tế hàng hoá theo cơ chế thị trờng, bộ máy quan liêu cồng kềnh kém
hiệu quả. Những sai lầm đó đã dẫn đến việc kìm hãm lực lợng sản xuất và nhiều
động lực phát triển, cuộc cải cách kinh tế bị đẩy lùi. T tởng Lênin trong chính
sách kinh tế Mác bị xem nh bớc lùi tạm thời bất đắc dĩ.
2)Sau đổi mới:
Khi chuyển sang kinh tế thị trờng chúng ta đứng trớc thực trạng là đất n-
ớc đã và đang từng bớc quá độ lên chủ nghĩa xã hội, từ một xã hội vốn là thuộc
địa nửa phong kiến, trình độ phát triển của lực lợng sản xuất xã hội thấp.
Không những thế, đất nớc ta lại trải qua hàng chục năm chiến tranh, hậu quả để
lại vô cùng nặng nề, những tàn d thực dân phong kiến còn nhiều, lại chịu ảnh h-
ởng nặng nề của cơ chế tập trung quan liêu bao cấp.
Từ những đặc điểm trên ta có thể nhận xét rằng: nền kinh tế nớc ta không
còn hoàn toàn là nền kinh tế tự cung tự cấp nhng cũng cha phải là nền kinh tế
hàng hoá theo ý nghĩa đầy đủ. Mặt khác do có sự đổi mới về mặt kinh tế nền
kinh tế nớc ta khi chuyển sang kinh tế thị trờng là nền kinh tế hàng hoá kém
phát triển, còn mang nặng tính chất tự cấp là ảnh hởng nặng nề của cơ chế tập
trung quan liêu bao cấp. Thực trạng đó đợc thể hiện ở các mặt sau:
-Thứ nhất, kinh tế hàng hóa kém phát triển, nền kinh tế còn mang nặng
tính tự cung tự cấp, cơ cấu kinh tế còn mất cân đối và kém hiệu quả, cha có thị
trờng theo đúng nghĩa của nó và năng suất lao động xã hội và thu nhập quốc
dân tính theo đầu ngời còn thấp.
Nền kinh tế nhiều thành phần ở nớc ta đã đợc hình thành và phát triển, vì
vậy thị trờng nớc ta cũng đợc hình thành và phát triển. Xem xét khái quát về thị
trờng nớc ta trong những năm qua vẫn thấy còn là thị trờng ở trình độ thấp, tính
chất của nó vẫn còn hoang sơ, dung lợng còn yếu và có phần rối loạn. Chúng ta
mới có thị trờng hàng hoá nói chung, trớc hết là thị trờng hàng tiêu dùng thông
thờng với hệ số giá cả và quan hệ mua bán bình thờng. Về cơ bản chúng ta cha
Đề tài: Nền Kinh tế thị trờng định hớng XHCN ở nớc ta hiện nay
có thị trờng sức lao động, thị trờng tiền vốn trong khu vực kinh tế nhà nớc. Thực
trạng này của thị trờng nớc ta là do kết quả của nhiều nguyên nhân khác nhau.
Về mặt khách quan là do trình độ phát triển của phân công lao động xã hội còn
thấp, nền kinh tế còn mang nặng tính tự cấp tự túc. Về mặt chủ quan là do
những nhận thức cha đúng đắn của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, là do sự phân
biệt duy ý chí giữa thị trờng có tổ chức và thị trờng tự do.
Điều cần thiết phải rút ra từ thực trạng của thị trờng trên đây là: với tất cả
tính phức tạp và các mặt tiêu cực xảy ra trên thị trờng, việc chuyển nền kinh tế
nớc ta sang kinh tế thị trờng vẫn đa tới mức tiến bộ về mật kinh tế hơn hẳn trớc
đây và tạo khả năng dẫn tới bớc ngoặt quyết định. Nhiệm vụ đặt ra hiện nay là
phải tiếp tục thúc đẩy quá trình hình thành và phát triển của thị trờng ngày càng
đầy đủ và thông suốt, thống nhất trên phạm vi cả nớc, phải gắn thị trờng trong
nớc với thị trờng quốc tế.
Thứ hai về thực trạng của nền kinh tế nớc ta khi chuyển sang nền kinh tế
thị trờng là ảnh hởng của mô hình kinh tế chỉ
huy với cơ chế tập trung quan liêu bao cấp. Hai cơ chế kinh tế cũ và mới (
cơ chế tập trung quan liêu bao cấp và thị trờng) có nhiều đặc điểm khác nhau,
điểm khác nhau cơ bản nhất là: cơ chế cũ hình thành trên cơ sở thu hẹp hoặc
gần nh xoá bỏ quan hệ hàng và tiền tệ, làm cho nền kinh tế bị hiện vật hoá
còn cơ chế mới hình thành trên cơ sở mở rộng quan hệ hàng hoá tiền tệ.
Quy luật tồn tại trong cơ chế giao nộp và cấp phát chỉ là hình thức, việc
mở rộng sản xuất và lu thông hàng hoá là một tất yếu lịch sử cho nên hạn chế
quuan hệ hàng hoá tiền tệ và quy luật giá trị trở thành sự cản trở tiến bộ kinh tế,
kìm hãm nhân tố mới. Do đó làm cho nhà nớc không thể làm chủ những quá
trình kinh tế khách quan mặc dù trong tay nhà nớc có thực lực kinh tế to lớn. Vì
vậy, đại hội lần thứ VII Đảng ta đã khẳng định: Xoá bỏ triệt để cơ chế quản lý
tập trung quan liêu bao cấp hình thành cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà n-
ớc bằng pháp luật, kế hoạch chính sách và các công cụ khác. Xây dựng và phát
triển đồng bộ hàng tiêu dùng, vật t, dịch vụ sức lao động thực hiện kinh tế
thông suốt trong cả nớc và với thị trờng thế giới.
Đề tài: Nền Kinh tế thị trờng định hớng XHCN ở nớc ta hiện nay
Xuất phát từ nhiệm vụ bao trùm về chính sách đối ngoại và quan điểm:
Việt Nam muốn là bạn của tất cả các nớc trong cộng đồng thế giới, phấn đấu
vì hoà bình, độc lập và phát triển, chính sách knh tế đối ngoại của nền kinh tế
hàng hoá nớc ta hiện nay đợc thực hiện theo những định hớng sau:
Đa dạng hoá, đa phơng hoá kinh tế với mọi quố gia, mọi tổ chức kinh tế
không phân biệt chế độ chính trị trên nguyên tắc tôn trong độc lập chủ quyền
bình đẳng và cùng có lợi. Củng cố và tăng cờng vị trí của Việt Nam ở các thị tr-
ờng quen thuộc và với bạn hàng truyền thống, tích cực thâm nhập và tạo chỗ
đứng ở thị trờng mới, phát triển các mối quan hệ dới mọi hình thức.
Kinh tế đối ngoại là một trong các công cụ kinh tế bảo đảm cho việc thực
hiện các mục tiêu kinh tế xã hội đề ra cho từng giai đoạn lịch sử cụ thể và
phục vụ đắc lực mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, thực hiện công
nghiệp hoá hiện đại hoá theo định hớng xã hội chủ nghĩa.
Tăng cờng hội nhập vào nền kinh tế thế giới, phát huy ý chí tự lực tự c-
ờng; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, dựa vào nguồn lực trong
nớc là chính, đi đôi với tranh thủ tối đa nguồn lực ở bên ngoài.
Theo những định hớng trên, mấy năm qua, hoạt động kinh tế đối ngoại ở
nớc ta đã lập lại quan hệ bình thờng với các quan hệ tài chính, tiền tệ quốc tế, b-
ớc đầu đã thu đựoc những thành tựu quan trọng về kinh tế đối ngoại.
Ngoài ra nền kinh tế thị tròng phát triển theo định hớng xã hội chủ nghĩa
cần có sự quản lý vĩ mô của nhà nớc. Đây là đặc điểm cơ bản nhất của kinh tế
thị trờng ở nớc ta khác với nền sản xuất hàng hoá giản đơn trứoc đây, cũng nh
khác với nền kinh tế thị trờng ở các nớc t bản chủ nghĩa. Đặc điểm này cũng
chính là mô hình kinh tế khái quát trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở
nớc ta. Mô hình kinh tế đó có những đặc trng riêng , làm cho nó khác với kinh
tế thị trờng ở các nớc t bản chủ nghĩa.
3)Hạn chế trong phát triển kinh tế
Đề tài: Nền Kinh tế thị trờng định hớng XHCN ở nớc ta hiện nay
Măc dù nớc ta đã đạt đợc nhng thành tựu nhất định trong phát triển kinh
tế và ổn định tình hình chính trị xã hội nhng không phải không còn nhng tồn tại
cần đợc giải quyết nhất là những tồn tại trong việc điều hành nền kinh tế và giải
quyết các vấn đề thơng mại .Tuy những khó khăn này chỉ là tạm thời nhng
chúng ta vẫn phải giải quyết để làm lành mạnh hoá nền kinh tế và đẩy nhanh
công cuộc phát triển kinh tế nớc nhà .
Một trong những hạn chế lớn hiện nay là Việt Nam còn thiếu quá nhiều
thông tin , đặc biệt là thông tin trong lĩnh vực kinh tế. Không có các thông tin
cần thiết về thị trờng , về Luật kinh tế dẫn đến nhiều thất bại. Đáng chú ý là vấn
đề thơng hiệu và gần đây là những khó khăn trong việc thâm nhập thị trờng Mỹ.
Chính từ hai nguyên nhân này mà Việt Nam thất bại trong vụ kiện cá ba sa.Về
mặt nào đó vụ kiện này có mặt thiên vị cho Hiệp hội chủ trại cá nheo Mỹ nhng
phải thừa nhận chúng ta đã không có nhng thông tin cần thiết và cũng không
tiến hành những hoạt động mà đáng ra chúng ta phải thực hiện trớc khi thâm
nhập và thành công trên thị trờng khó tính này. Một hạn chế khác là chúng ta
vẫn còn tồn tại những nghành kinh tế còn quá yếu kém khi mà chúng ta đã và
đang dỡ bỏ một số hạn ngạch thuế quan cho một số mặt hàng để chuẩn bị cho
quá trình tham gia tổ chức thơng mại quốc tế WHO. Nguyên nhân của sự khó
khăn này một phần là do còn có nhng ngành kinh tế hoạt động không hiệu quả
đặc biệt trong sử dụng vốn. Một phần là do một phần những ngành khác có tỷ lệ
nội địa hoá thấp. Ngoài ra vẫn phải thừa nhận là các ngành kinh tế Việt Nam
phát triển phần lớn là dựa vào sự tăng lên về vốn. Theo thống kê gần đây thì
trong cơ cấu một đồng sản phẩm tăng lên thì có tới 74% là do tăng về vốn , 14%
do lao động và chỉ có 12% là do sự tăng lên về năng suất thôi. Trong những
nghành có tỷ lệ nội địa hoá thấp thì có thể kể đến ngành ô tô và công nghệ tin
học, phần lớn hàng hoá sản xuất trong nớc mới dừng ở mức lắp ráp sản phẩm
linh kiện nhập từ nớc ngoài về.Ví dụ ngành ô tô tỷ lệ nội địa hoá mới ở mức
8%, cao nhất là Toyota Việt Nam tỷ lệ này cung chỉ đạt 14%. Hiện nay một
trong những vấn đề mà các nhà quản lý không thể giải quyết mâu thuẫn giữa
Đề tài: Nền Kinh tế thị trờng định hớng XHCN ở nớc ta hiện nay
việc giảm để kích thích tiêu dùng các loại hàng hoá đồng thời phải tăng thuế để
buộc các doanh nghiệp tăng tỷ lệ nội địa hoá.
Đó là trên sân nhà, còn trên thị trờng thế giới thì sao? Nói chung hàng
hoá Việt Nam vẫn còn chủ yếu cạnh tranh bằng giá. Nói chung công nghệ sản
xuất của Việt Nam còn khá lạc hậu nên hàng hoá có giá trị thấp, hàm lợng khoa
học không cao. Kết quả dễ thấy là lợi nhuận sẽ thấp. Trong khi đó, Việt Nam lại
cha vơn tới những thị trờng dễ tính nh châu Phi, Đông Âu mà chủ yếu hàng
hoá xuất sang EU, Nhật và Mỹ vốn là những thị trờng khó tính đòi hỏi những
tiêu chuẩn khắt khe. Các tham tán thơng mại cũng cha hoạt động hiệu quả trong
việc hỗ trợ doanh nghiệp tìm kiếm thị trờng. Một vấn đề nữa là hàng hoá Việt
Nam vẫn hay bị một số nớc mua lại, dán nhãn mác khác để bán ra thị trờng.
Đây là một thiệt thòi lớn cho chúng ta không chỉ là lợi nhuận mà còn liên quan
đến những quyền lợi và tài sản vô hình khác.
Không chỉ vậy, trong lĩnh vực quản lý nhà nớc chúng ta cũng còn tồn tại
không ít những hạn chế đặc biệt trong lĩnh vực quản lý hành chính và chế độ tài
chính công. Phải thừa nhân rằng bộ máy hành chính của Việt Nam còn rất cồng
kềnh và còn quá nhiều khâu trùng lặp. Mặc dù chúng ta đã có những cải cách
trong rút gọn thủ tục hành chính nhng vẫn còn khá phức tạp, cha thực sự thông
thoáng. Tiêu biểu là việc cải thiện chế độ hải quan tại các cảng biển nớc ta.
Theo đánh giá của các nhà kinh doanh nớc ta đây là một tiến bộ lớn nhng sau
một thời gian kiểm điểm lại chính chúng ta cũng phải thừa nhận những khiếm
khuyết vẫn còn tồn tại. Đồng thời với việc
nặng nề trong thủ tục hành chính thì vấn đề liên hệ giữa các thành phàn
tham gia giải quyết cũng cha thông suốt. Hệ thống luật Việt Nam cũng cha thực
sự hoàn thiện và thiếu sự ổn định. Đặc biệt là hệ thống luật kinh tế nói chung
luôn thay đổi gây không ít khó khăn cho doanh nghiệp. Gần đây các phơng tiện
thông tin đại chúng liên tục đa ra những kiến nghị của các doanh nghiệp xung
quanh vấn đề mua hoá đơn GTGT. Theo ý kiến của các chuyên gia nớc ngoài
tham gia giúp đỡ Việt Nam trong việc soạn thảo các văn bản luật thì nguyên
nhân chính là do Việt Nam có quá nhiều văn bản chồng chéo. Ngoài luật còn có
Đề tài: Nền Kinh tế thị trờng định hớng XHCN ở nớc ta hiện nay
thông t, chỉ thị, hớng dẫn.Đôi khi chính những văn bản này lại hạn chế lẫn
nhau, mâu thuẫn với nhau. Bộ máy hành chính còn cồng kềnh cũng hạn chế khả
năng hoạt động của các nhà đầu t. Cái khó nhất ở đây là bộ máy hành chính
càng cồng kềnh càng tạo ra nhiều khâu trung gian, càng làm mất thời gian của
doanh nghiệp trong khi đó có không ít khâu còn có sự chồng chéo nhau không
phân định rõ phạm vi hoạt động.
III/ Một số giải pháp cơ bản tiếp tục phát triển kinh tế thị
tròng định hớng xã hội chủ nghĩa:
Muốn phát triển nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa ở Việt
Nam, cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp.
1.Thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần:
Thừa nhận trên thực tế tồn tại nhiều thành phần kinh tê trong thời kỳ quá
độ là một trong những điềukiện cơ sở để thúc đẩy kinh tế hàng hoá phát triển,
nhờ đó mà sử dụng có hiệu quả sức mạnh tổng hợp của mọi thành phần kinh tế.
Cùng với việc đổi mới, củng cố kinh tế nhà nớc và kinh tế hợp tác, thừa
nhận việc khuyến khích các thành phần kinh tế cá thế, t nhân phát triển là nhận
thức quan trọng về xây dựng chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ. Theo hớng đó mà
khu vực kinh tế nhà nớc, kinh tế tập
thể, kinh tế cá thể và các hình thức kinh tế hỗn hợp khác đều đợc khuyến
khích phát triển theo định hớng tiến lên chủ nghĩa xã hội. Tất cả các thành phần
kinh tế đều bình đẳng trớc pháp luật, tuy vị trí, quy mô, tỷ trọng, trình độ có
khác nhau nhng tất cả đều là nội lực của nền kinh tế phát triển theo định hớng
xã hội chủ nghĩa.
Đề tài: Nền Kinh tế thị trờng định hớng XHCN ở nớc ta hiện nay
2.Mở rộng phân công lao động, phát triển kinh tế vùng, lãnh
thổ, tạo lập đồng bộ các yếu tố thị trờng:
Phân công lao động là cơ sở của việc trao đổi sản phẩm. Để đẩy mạnh
phát triển kinh tế hàng hoá, cần phải mở rộng phân công lao động xã hội, phân
bố lại lao động và dân c trong phạm vi cả nớc cũng nh từng địa phơng, từng
vùng theo hớng chuyên môn hoá, hợp tác hoá nhằm khai thác mọi nguồn lực,
phát triển mọi ngành nghề, sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện có
và tạo việc làm cho ngời lao động. Cùng với mở rộng phân công lao động xã hội
trong nớc, phải tiếp tục mở rộng quan hệ kinh tế với nớc ngoài nhằm gắn phân
công lao động trong nớc và phân công lao động quốc tế, gắn thị trờng trong nớc
và thị trờng quốc tế. Nhờ đó mà thị trờng trong nớc từng bứơc đợc mở rộng,
tiềm năng về lao động, tài nguyên, cơ sở vật chất hiện có đợc khai thác có hiệu
quả. Thị trờng đợc khai thông trên khắp mọi miền của đất nớc, gắn liền với thị
trờng thế giới.
Cần phải tiếp tục phát triển mạnh thị trờng hàng hoá và dịch vụ, hình
thành thị trờng sức lao động có tổ chức, quản lý chặt chẽ đất đai và thị trờng
nhà cửa, xây dựng thị trờng vốn, từng bớc hình thành thị trờng chứng khoán.
Để khai thác có hiệu quả tiềm năng về vốn, sức lao động, công nghệ, tài
nguyên, thực hiện mở rộng phân công lao động xã hội, cần phải từng bớc hình
thành đồng bộ các loại thị trờng tiền tệ, vốn, sức lao động, chất xám, thông tin,
t liệu sản xuất và t liệu tiêu dùng Điều này sẽ đảm bảo cho việc phân bố và sử
dụng các yếu tố đầu vào, đầu ra của quá trình sản xuất phù hợp với nhu cầu của
sự phát triển kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa.
3.Đẩy mạnh công tác nghiên cứu ứng dụng khoa học công
nghệ, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Trong kinh tế thị trờng, các doanh nghiệp chỉ có thể đứng vững trong
cạnh tranh nếu thòng xuyên đổi mới công nghệ để hạ chi phí, nâng cao chất l-

Xem chi tiết: KTTT định hướng XHCN


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét