Thứ Năm, 23 tháng 1, 2014

Cẩm nang nuôi tôm sú


CẨM NANG NUÔI TÔM SÚ
Mới 5/12 CẨM NANG NUÔI TÔM
LỜI GIỚI THIỆU
của Cty Toàn Cầu, INVE Group
Để nuôi tôm thắng lợi, đạt hiệu quả cao, ngoài yếu tố ban đầu là phải chọn con
giống thật tốt, sạch bệnh; sử dụng loại thức ăn chất lượng cao, thì việc chuẩn bò, cải tạo
ao và quản lý môi trường, bệng dòch trong quá trình nuôi tôm là những việc hết sức
quan trọng. Để giúp bà con nuôi tôm vùng Đồng bằng Sông Cưủ Long nuôi tôm đạt
hiệu quả, công ty Toàn Cầu, INVE Việt Nam xin trân trọng giới thiệu cuốn Cẩm nang
nuôi tôm của các tiến só: Đoàn văn Đẩu, chuyên gia nuôi tôm, đồng giải thưởng Nhà
nước về khoa học và công nghệ sản xuất giống tôm biển (2000), đã nghiên cứu tôm
biển từ năm 1973 đến nay, Tiến só Nguyễn văn Hảo, Viện trưởng Viện Nghiên cứu nuôi
trồng Thủy sản II, Bộ Thủy Sản, người đã có rất nhiều công trình về nuôi tôm công
nghiệp vàbệnh tôm ở Đồng bằng sông Cửu Long, Tiến só. Julio Macias Egas chuyên gia
INVE group tại Việt Nam, chuyên gia về các chế phẩm sinh học và môi trường nuôi
tôm. INVE group cũng đã gửi cho các tác giả những nghiên cứu mới nhất về quản lý
môi trường, sử dụng hợp lý một số loại phân bón vừa có tính năng gây màu nước vừa có
tác dụng kiểm soát khí độc trong ao với những so sánh hiệu quả kỹ thuật, kinh tế hết
sức thuyết phục của các chuyên gia hàng đầu thế giới: tiến só, Patrick Lavens ( Đại học
Gent, Bỉ), giáo sư, tiến só Claude. Boyd (Đại học Auburn, Mỹ);
Đặc biệt trong cuốn cẩm nang này, các tác giả đã trình bày một cách ngắn gọn,
đầy đủ và dễ hiểu những khái niệm thông thường trong nghể nuôi tôm, kinh nghiệm
nuôi tôm của bản thân, của bà con nuôi tôm vùng đồng bằng sông Cửu Long kết hợp
với những thông tin mới nhất về nghề nuôi tôm.
Nhân dòp phát hành cuốn sách nhỏ này, chúng tôi xin bày tỏ lòng cám ơn tới
các tác giả, các cơ quan khuyến ngư các tỉnh đã ủng hộ tinh thần và vật chất cho cuốn
sách naỳ. Ngoài việc tham khảo cuốn sách này, nếu có những vấn đề cần trao đổi, Bà
con nuôi tôm có thể trao đổi trực tiếp hoặc gọi điện thoại đến công ty Toàn Cầu, chúng
tôi sẽ tổ chức những buổi trao đổi kinh nghiệm nuôi tôm với bà con ngay tại các xã, ấp
nơi bà con đang nuôi tôm.
Kính chúc bà con nuôi tôm mùa mùa bội thu.
TGĐ Công ty Toàn Cầu.
Hu Chia Yiang.



CẨM NANG NUÔI TÔM.

CHƯƠNG I:

MỞ ĐẦU
Ngày xưa, khi trồng lúa, Ông cha ta thường nói: Nhất NƯỚC, nhì PHÂN, tam CẦN, tứ
GIỐNG. Trong nghề nuôi tôm yếu tố NƯỚC và CẦN chính là việc QUẢN LÝ MÔI
TRƯỜNG NƯỚC và PHÒNG BỆNH. Ngoài việc chọn được con GIỐNG TỐT SẠCH
BỆNH, thì việc quyết đònh sự thành công của bà con nuôi tôm chính là quản lý môi
trường nuôi và phòng trừ dòch bệnh cho tôm.
Do vậy, trước hết, chúng tôi sẽ giới thiệu một số vấn đề về môi trường và bệnh tôm
thường gặp, đặc biệt là bệnh tôm ở Đồng bằng sông Cửu Long, trên cơ sở này bà con
sẽ xây dựng hệ thống ao, mương máng và cải tạo ao, lấy nước, gây màu, cho tôm ăn và
chăm sóc tôm đúng kỹ thuật , nuôi tôm đạt hiệu quả.
1.1. Tìm hiểu về con tôm:
Tôm sú thuộc giống tôm Penaeus và được các nhà khoa học đặt tên là Penaeus
monodon, Tên tiếng Anh là Tiger shrimp (tôm hổ, tôm có vằn giống con hổ). Tôm thuộc
bộ 10 chân vì chúng có 5 chân bò và 5 chân bơi. Tôm thuộc lớp giáp xác, nghóa là
chúng phải lột xác để lớn, tôm lột xác có tính chu kỳ: Trong một vòng đời, tôm tích luỹ
các chất cần thiết cho cơ thể, và lột xác dưới sự diều tiết của các chất nội tiết
(hormone), lúc này tôm cơ thể hấp thu nước rất nhanh và hình thành vỏ mới lớn hơn vỏ
cũ. sau đó vỏ cứng lại rất nhanh. Khi con cái vừa lột xác xong, vỏ còn mềm thì con đực
đến, dùng phần phụ ở chân bơi thứ nhất trao tinh cho con cái. Tôm cái giữ các bó tinh
trong thelycum (hình 2 hạt đậu) ở trước ngực. Tôm mẹ “vượt cạn một mình”, chúng đẻ
trứng vào nước biển và tự phun tinh vào trứng. Dạ dày tôm nằm trong và trên khoang
giáp đầu ngực. Tôm ăn no có thể nhìn thấy ruột chạy từ dạ dày xuống tận đuôi. Buồng
trứng tôm phát triển có màu xanh đậm lan khắp phần trên giáp đầu ngực, phình to ở đốt
bụng thứ nhất và kéo xuống đuôi

H1: Giải phẫu nội quan tôm sú (nhìn nghiêng), theo Viphavet.
Tôm có chủy với nhiều gai, râu dài rất đẹp, đuôi gồm 1 kiếm hậu (telson nhọn) và 2 đôi
“quạt ba tiêu” (uropod- ) rất oai vệ, vì vậy một nhà thơ đời nhà Trần đã có một bài thơ
châm biếm mượn hình ảnh họ tôm, để châm biếm những tên quan lại, hào lý và bọn
nhà giầu, bất tài, nhưng lại thích khoe mẽ, hợm đời…như sau:
Chẳng phải vương công, chẳng phải hầu,
Cũng đòi đái kiếm, lại mang râu,
Khoe đôi mắt đỏ trong dòng bích,
Chẳng biết mình va cứt lộn đầu!

Kể cũng oan cho con tôm! Nhưng đúng là tôm có chủy, có kiếm, có râu , có đuôi qúa
đẹp, chỉ ”tiếc “ là nhà thơ đã nói quá đúng về đường tiêu hoá, về “đường con cái” của
con tôm: các bộ phận nhạy cảm này lại nằm ngay trên đầu, trên lưng tôm!
Hình 2: Vòng đời lưu lạc ba chìm bảy nổi của mẹ con nhà tôm sú
(Theo V.A De graindorge và T.W. Flegel 1999. T.T V. Ngân 2002)
Trứng
Ấu trùng
Tôm con
Tôm post
Biển khơi
Ven bờ
Tôm mẹ
Và có phải vì lỗi lầm này hay không mà khi “mãn nguyệt, khai hoa”, tôm mẹ
phải vượt hàng chục, hàng trăm hải lý ra tận biển khơi mới dám đẻ trứng, và ấu trùng
tôm đã phải “ba chìm, bảy nổi, chín lênh đênh” phải lột xác 25 – 30 lần và hơn thế
nữa: phải lột xác qua 6 giai đoạn Naupli, 3 giai đoạn Zoea, 3 giai đoạn Mysis, và nhiều
giai đoạn Post larvae mới trở thành tôm con, quay trở lại đi vào vùng cửa sông, ven
biển, rừng sát nơi mà bố mẹ chúng đã sống trước đó. Kiếp luân hồi của tôm, cứ thế tiếp
diễn từ thế hệ này sang thế hệ sau…
1.2. Thế nào là giống tốt, giống sạch bệnh?
Các trại tôm giống thường bán tôm giống cho bà con nuôi tôm khi tôm giống ở giai
đoạn Post – larvae
12 – 15
mà bà con thường gọi là pốt
12 – 15
(pốt 12 – 15 ngày tuổi). Tôm
giống tốt, sạch bệnh là tôm đồng đều về kích thứớc, khoẻ mạnh, không có ký sinh,
nấm, vi khuẩn và virus.
1.3. Môi trường ao nuôi tôm là gì?
Môi trường ao bao gồm ao, nước, các chất vô cơ, hữu cơ, các loại tảo, thực vật, động
vật, các loại vi sinh vật có lợi, có hại kể cả các loại virus (siêu vi khuẩn) trong ao nuôi
1.4. Khái niệm về Bệnh tôm.
Bệnh tôm bao gồm nhiều loại, gây tổn thương hoặc tử vong cho tôm mà tác nhân gây
bệnh là nguyên sinh động vật, ký sinh trùng, nấm, tảo, một số vi khuẩn có hại, và virus.
Thiếu dinh dưỡng, thay đổi môi trường, gây sốc cho tôm cũng là những nguyên nhân
gây bệnh cho tôm.
1.5. Mối quan hệ giữa tôm nuôi trong ao với môi trường nước và bệnh tôm như thế
nào?
Trong một ao nuôi đã chuẩn bò tốt, đã sử lý nước cẩn thận thì coi như các nguy
cơ do môi trường gây bất lợi cho tôm không có. Để dễ hiểu, trong hình vẽ dưới đây,
chúng ta hãy vẽ các yếu tố môi trường bất lợi cho tôm bằng một vòng tròn màu xám.
Những ngày đầu mới nuôi tôm, vòng tròn này chưa có hoặc rất nhỏ. Cũng vậy, nếu xử
lý ao tốt, chọn giống sạch bệnh thì tất cả mầm bệnh đều bò tiêu diệt hết. Chúng ta vẽ
các yếu tố mầm bệnh này bằng 1 vòng tròn màu đỏ. Những ngày đầu mới nuôi tôm,
vòng tròn này rất nhỏ hoặc không có. Tôm thả nuôi trong ao được vẽ bằng một vòng
tròn màu vàng. Theo thời gian, tôm càng lớn, vòng tròn vàng càng to.
Nhưng nếu quản lý nước trong ao không tốt thì môi trường trở nên xấu đi, vòng tròn
xám xuất hiện và lớn dần, bệnh tôm cũng xuất hiện theo, vòng tròn đỏû xuất hiện và lớn
dần. Hai vòng tròn xám và đỏ này càng lớn càng lấn vào nhau và lấn vào vòng tròn
vàng; và thế là cả môi trường xấu, cả mầm bệnh sẽ làm tôm nhiễm bệnh. Phần chồng
lấn giữa 3 vòng tròn vàng, xanh đỏ càng lớn thì khả năng tôm bò nhiễm bệnh càng
nhiều mà thủ phạm chính là môi trường xấu kéo theo các mầm bệnh phát triển mà
thành bệnh. Nếu không xử lý kòp thời,vòng tròn đỏ (bệnh) sẽ trùm hết vòng tròn vàng
(tôm) và thế là tôm chết 100%.
Có thể hình dung 3 vòng tròn vàng, xám, đỏ trong ao nuôi tôm thay đổi theo thời gian
nuôi như sau:
CHƯƠNG II.
Hình3A1: Ao vừa thả tôm,
môi trường còn sạch, không
có mầm bệnh, nên trên sơ
đồ này không cóõ vòng tròn
xám và đỏ mà chỉ có vòng
tròn vàng
Hình 3B: Ao nuôi tôm sau vài
tuần, do quản lý không tốt,
môi trường xấu đi, bệnh tôm
xuất hiện ngày càng nhiều,
vòng tròn xám (môi trường) và
đỏ (bệnh tôm) xuất hiện, và sẽ
lớn dần nếu không được điều
chỉnh, xử lý
Hình 3 C: Ao nuôi tôm sau
vài tháng, do quản lý kémt,
môi trường trở nên rất xấu,
bệnh phát triển mạnh, vòng
tròn xám và đỏ lớn nhanh,
lấn vào vòng tròn vàng,
vùng chồng lấn giữa 3 vòng
tròn càng lớn, tôm càng dễ
nhiễm bệnh, chết.
CHƯƠNG II
NHỮNG CHỈ TIÊU MÔI TRƯỜNG CẦN QUAN TÂM TRONG AO NUÔI TÔM:
2.1. Các chỉ tiêu thủy lý hoá tối ưu trong ao nuôi tôm
Để nuôi tôm bội thu, nước trong ao nuôi tôm cần thoả mãn các yếu tố sau:
Yếu tố: Biên độ thích hợp Ghi chú
Độ mặn (phần ngàn %o) 15 -25 Dao động không quá 5
Nhiệt độ( T
0
C) 28 - 32 Dao động ngày đêm không quá 5
Độ pH (độ chua) 7,5 – 8,5 Dao động ngày đêm không quá 0,5
Độ kiềm (phần triệu-viết tắt
là ppm)
80-100
100-130
130-150-200
Nếu thấp hoặc cao quá sẽ ảnh hưởng đến pH
Khi mới thả tôm
Khi tôm 45 ngày tuổi
Khi tôm trên 45 ngày tuổi
Độ cứng của nước (ppm) 150-300
Oxy hoà tan (ppm) 5 – 6
Không được ở mức dưới 4 ppm
Độ trong của nước ( cm) 30 - 40
Amonia (NH
3
) (ppm) Nhỏ hơn 0,1
Tính độc sẽ tăng khi pH và nhiệt độ nước tăng
Khí trứng thối H
2
S (ppm) Nhỏ hơn 0,03
Tính độc sẽ gia tăng nếu pH thấp
Khí SulfurSO
2
(ppm) Nhỏ hơn 0,02
Tnh độc sẽ gia tăng khi thiếu khí oxy
Thuốc trừ sâu Không có
Tổng số vi khuẩn có hại:
E.coli và Vibrio
Không có
Vi khuẩn gây bệnh cho tôm
Tổng số vi khuẩn hiếu khí
Trên 1000 CFU/ml
Vi khuẩn giúp làm sạch môi trường nước và
đáy ao nuôi tôm
Tổng số vi khuẩn yếm khí
Trên 1000 CFU/ml
Vi khuẩn giúp làm sạch môi trường nước và
đáy ao nuôi tôm
Ghi chú:
1 ppm là một phần triệu =1kg/1000 m
3
= 1000 mg/1000m
3
= 1 mg/1 lít
1 ppt là một phần ngàn (có thể viết tắt là %o) =1kg/1 m
3
=1000 g/1000 lít =1g/1 lít.
CFU: Số đơn vò khuẩn lạc trong 1 ml (ký hiệu là CFU/ml)
2.1.1. Độ mặn.
Độ mặn dùng để chỉ số lượng muối (chủ yếu là muối ăn NaCl) trong nước.
Để cho tôm lớn nhanh, cố gắng nuôi tôm trong chính vụ, tạo cho nước trong ao nuôi có
độ mặn từ 15 đến 25 %o Nếu nuôi tôm trong nước có độ mặn thấp quá tôm sẽ chậm
lớn, vỏ mềm và khó lột vỏ, Nếu phải nuôi tôm trong các ao có độ mặn thấp, có thể sử
dụng thêm các loại hoá chất có calci như Marine calcium (calline)… Nếu trong ao nuôi
độ mặn quá cao, bà con có thể sử dụng nước ngọt để pha loãng nhưng phải sử lý phèn,
kim lọai nặng trước khi đưa vào ao nuôi.
2.1.2. Nhiệt độ
Nhiệt độ nước thích hợp trong ao nuôi tôm sú là 28 – 32
o
C. Khi nhiệt độ nước thâp hơn
hoặc cao hơn giới hạn trên thì tôm kém ăn và môi trường nước sẽ thay đổi theo chiều
hướng xấu đi.
Ao có mực nước sâu trên 1, 2 m thì nhiệt độ trong ao ít bò biến động theo ngày đêm.
2.1.3.Độ pH:
pH là đôï phèn, độ chua của đất, của nước, là hàm lượng của ion hydro (H
+
)

có trong
môi trường. Sự biến động và tăng giảm của khí CO
2
là nguyên nhân làm pH tăng hay
giảm theo. pH liên quan chặt chẽ với hệ đệm của nùc
Nếu pH trong nước ao quá thấp thì nước rất trong (có nhiều phèn nhôm) hoặc nước ao
có màu vàng cam (có nhiều phèn sắt). pH có liên quan đến sự hoạt động của tảo, sự trôi
rửa phèn từ bờ ao xuống và sự bốc phèn từ đáy ao lên. Khi đào ao, bà con đừng đào sâu
quá 1, 5 m để tránh lớp phèn tiềm tàng ở phía dưới.
2.1.4. Độ kiềm:
Độ kiềm (Alkalinity) là hàm lượng chủ yếu của các ion canxi - Ca, manhê - Mg trong
nước. Nước tự nhiên có độ kiềm 40 mg/l. Nước có độ kiềm cao gọi là nước cứng, nước
có độ kiềm thấp gọi là nước mềm. Khi độ kiềm thấp hơn 60 mg/l và cao hơn 200 mg/l
đều làm cho tôm khó lột xác hoặc không lột xác được. Trong ao nuôi nếu có nhiều ốc
sẽ làm cho độ kiềm giảm sút. Trời mưa nhiều, đất bò xì phèn; tôm lột xác nhiều trong
các tháng nuôi đầu tiên đều có thể làm cho độ kiềm bò giảm thấp. Cứ 2 ngày/lần, nên
đo độ kiềm để có hướng điều chỉnh. Khi muốn tăng độ kiềm mà độ pH không bò tăng
theo đáng kể thì ta dùng dolomite 10 -30 kg/1000 m
3
; Dolomit CaMg(CO
3
)
2
là loại vôi
tốt nhất để tạo ra hệ đệm, giữ cho pH cũng như độ kiềm trong ao tôm ổn đònh. Muốn
giảm độ kiềm, có thể dùng thạch cao CaSO
4
(10 kg/1000 m
3
) hoặc dùng sản phẩm
Alkalinity down của công ty Tiến Thành (đồng thời ngăn hiện tượng tôm có 2 lớp vỏ)
và không nên dùng nước giếng khoan.
2.1.5. Hệ đệm:
Hệ đệm gồm các yếu tố HCO
3
-
và CO
3

giúp cho pH trong ao không biến động lớn khi
tảo trong ao hô hấp hay quang hợp. Để tăng cường hệ đệm của nước thì phải bón
Dolomit đònh kỳ cho ao (10-30 kg/1000 m
3
nước ao/1 lần/1tuần). Có sự liên quan chặt
chẽ giữa độ kiềm, độ pH và hệ đệm trong ao: Tạo được 1 yếu tố ổn đònh sẽ là cơ sở ổn
đònh cho các yếu tố còn lại. Môi trường nước có độ kiềm cao sẽ có hệ đệm khoẻ.
2.1.6. Oxy hoà tan:
Khí oxy (O
2
) chiếm ¼ thành phần không khí. Oxy cũng hoà tan trong nước. Tôm và các
loại động thực vật trong ao đều cần oxy. Quạt nước hay xục khí từ cách đáy ao 10 -15
cm làm cho không khí (trong đó có oxy) hoà tan trong nước.
2.1.7.Khí amonia (NH
3
):
Khí ammonia phát sinh trong ao là do các vi sinh vật phân hủy các chất cặn bã trong ao.
Lượng ammonia từ 0,2 đến 2,0 ppm có thể làm chết tôm. Khi pH và nhiệt độ trong ao
càng cao thì tính độc hại của ammonia càng tăng, làm tôm giảm hấp thụ oxy, làm tôm
yếu, và nếu kéo dài có thể gây tử vong cho tôm.
2.1.8. Khí nitrit (NO
2
):
Khi trong ao có khí ammonia thì vi sinh vật (Nitrosomonas…, Nitrobacter sp) sẽ phân
hủy ammonia thành nitrit. Mức độ gây độc của nitrit còn lớn hơn cả mức độ gây độc
của ammonia. Mức độc hại của nitrit sẽ tăng khi lượng oxy và pH trong nước giảm.
Để giảm thiểu nitrit, cần thực hiện quản lý môi trường như quản lý ammonia nêu trên.
Sự biến đổi của khí ammonia, nitrit, nitrat trong ao nuôi tôm như sau:
Hàm lượng NH
3
tỷ lệ thuận với pH và nhiệt độ, do vậy tìm cách giảm NH
3
sẽ tốt hơn là
tìm cách giảm pH.
2.1.9. Khí trứng thối (H
2
S):
Khí trứng thối được sinh ra từ các vật chất hữu cơ có chất lưu hùynh (S), khi thiếu oxy vi
sinh vật kỵ khí sẽ phân hủy chất thải, tạo nên khí trứng thối (H
2
S) và gây độc cho tôm,
làm tôm chán ăn, có thể gây tử vong cho tôm. Khí trứng thối trong nước được phân ly
thành ion HS
-
và S
- -
theo các phản ứng sau
H
2
S  H
+
+ HS
-
HS
-
  H
+
+ S
- -
Do vậy khi pH thấp (có nhiều H
+
trong nước), phản ứng sẽ thiên về phía trái, sẽ tạo ra
nhiều khí trứng thối, gây độc cho tôm
Hình vẽ sau đây minh hoạ độc tính của khí ammonia và khí trứng thối khi pH thay đổi:
Giữ được pH ở mức 7,5 – 8,5 sẽ làm cho độc tính của NH
3
cũng như độc tính của H
2
S ở
mức thấp nhất. Xục khí, tăng cường oxy hoà tan, sử dụng chế phẩm sinh học hoặc dùng
các hoá chất có tính oxy hoá cao như thuốc tím (2-5 ppm); chlorine (7 – 10 ppm), BKC
Sản phẩm thừa
Vi khuẩn dò dưỡng
NH
3,
độc
NH
3
Vi khuẩn hoá tự dưỡng
NO
2
ít độc
NO
2
Vi khuẩn hoá tự dưỡng
NO
3
không độc
NH
4
không độc
NH
3
Hoà tan trong
Amonia
Nitrit
nitrat
Amonium

H
2
O
+
Hình 4 : Sự chuyển hoá của khí ammonia trong ao nuôi tôm
(0,1 – 0,5 ppm) cũng hạn chế hoặc giải phóng khí độc. Dùng chế phẩm sinh học để xử
lý khí độc tốt hơn là dùng Zeolite.

2.2. Các sinh vật trong ao nuôi tôm
2.2.1. Virus trong ao:
Virus có kích thước rất nhỏ (20 -30 / 1.000.000.000 mm) và có cấu trúc đơn giản dưới
mức tế bào, Virus sinh sôi dựa vào tế bào của vật chủ. Là nhóm sinh vật nguy hiểm
nhất gây bệnh, gây chết hàng loạt, rất nhanh cho tôm nuôi như bệnh đốm trắng, đầu
vàng, còi… Hiện chưa có thuốc trò Virus tồn tại dưới dạng AND. Virus dạng nghỉ
phát tán trong nước tìm ký chủ để tấn công, chúng chỉ sống được 3 - 4 ngày, nếu
không gặp được ký chủ, chúng sẽ chết.
2.2.2.Vi khuẩn trong ao:
Vi khuẩn hay vi sinh vật là những tế bào nhỏ bé.Một số vi khuẩn vào cuối thời kỳ
sinh trưởng sẽ sinh ra bên trong tế bào một thể nghỉ có dạng hình cầu hay hình
bồ dục gọi là bào tử hay nội bào tử.
Nấm men: có cấu trúc đơn bào, sinh sản phân chồi, có tính acid cao, thích nghi với
môi trường đường, có chứa manna. Về mặt phân loại học, nấm men được xếp chung
với vi sinh vật.
Trong ao nuôi tôm có thể có một số nhóm vi khuẩn sau:
2.2.2.1 Nhóm vi khuẩn gồm các loài Nitrobacter.sp. ; Nitrosomonas. sp. Nhóm này rất
có ích vì chúng chuyển hoá khí NH
3
độc (xuất hiện ở đáy ao do thức ăn dư thừa và các
chất cặn bã) thành dạng NO
3
hay NO
2
ít độc hơn.
2.2.2.2. Nhóm vi khuẩn gồm các loài Bacillus sp. Nhóm này tiết các chất (enzyme) có
tác dụng phân hủy các chất hữu cơ dư thừa, cung cấp oxy cho quá trình hô hấp, tạo ra
Độc tính khí ammonia NH
3
tăng


Độc tính khí trứng thối H
2
S tăng
Khi trời nắng, pH và nhiệt độ tăng cao:
Khi trời mưa, ao bò chua,pH xuống thấp:
Tảo chết, đáy ao bò ô nhiễm Tảo chết
Tôm nuôi Tôm nuôi
Hình 5 : Quan hệ giữa độc tính của NH
3
và H
2
S với khí hậu, pH, nhiệt độ

Xem chi tiết: Cẩm nang nuôi tôm sú


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét