nhạy cảm, chịu tác động của rất nhiều nhân tố về kinh tế, chính trị, xã hội, tâm lý, truyền
thống văn hóa… mỗi một nhân tố này có sự thay đổi dù là nhỏ nhất cũng đều tác động rất
nhanh chóng và mạnh mẽ đến môi trường kinh doanh chung.
Hai là, các NHTM trong kinh doanh luôn vừa phải cạnh tranh lẫn để dành giật thị
phần, nhưng cũng luôn phải hợp tác với nhau, nhằm hướng tới một môi trường lành
mạnh để tránh rủi ro hệ thống. Do hoạt động kinh doanh của các NHTM có liên quan
đến tất cả các tổ chức kinh tế, chính trị - xã hội, từng cá nhân thông qua hoạt động huy
động tiền gửi tiết kiệm, cho vay cũng như các loại hình dịch vụ tài chính khác; đồng thời
trong hoạt động kinh doanh của mình các ngân hàng cũng thường mở tài khoản cho nhau
để cùng phục vụ các đối tượng khách hàng chung.
Ba là, cạnh tranh ngân hàng thông qua thị trường có sự can thiệp gián tiếp và
thường xuyên của NHTW của mỗi quốc gia hoặc của khu vực. Hoạt động của các
NHTM có liên quan tới rất nhiều chủ thể khác nhau trong nền kinh tế nên để tránh
nguy cơ xảy ra rủi ro hệ thống, NHTW đều có sự giám sát chặt chẽ thị trường này và
đưa ra hệ thống cảnh báo sớm để phòng ngừa rủi ro. Vì vậy, sự cạnh tranh trong hệ
thống các NHTM không thể dẫn đến làm suy yếu và thôn tính lẫn nhau như các loại
hình kinh doanh khác trong nền kinh tế.
Bốn là, sự cạnh tranh của các NHTM là loại hình cạnh tranh bậc cao, đòi hỏi
những chuẩn mực khắt khe hơn bất cứ loại hình kinh doanh nào khác. Điều đó là do
hoạt động của các NHTM liên quan đến lưu chuyển tiền tệ, không chỉ phạm vi trong
một nước, mà có liên quan đến nhiều nước để hỗ trợ cho các hoạt động kinh tế đối
ngoại; vì thế, hoạt động kinh doanh trong hệ thống NHTM chịu sự chi phối của nhiều
yếu tố trong nước và quốc tế như: Môi trường pháp luật, tập quán kinh doanh của các
nước, các thông lệ quốc tế… đặc biệt là chịu sự chi phối mạnh mẽ của điều kiện cơ
sở hạ tầng, trong đó công nghệ thông tin đóng vai trò cực kỳ quan trọng.
1.1.1.3 Khái niệm về năng lực cạnh tranh
Năng lực cạnh tranh là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi, nhưng đến nay vẫn
còn rất nhiều các quan điểm khác nhau về năng lực cạnh tranh. Một cách chung nhất,
theo từ điển thuật ngữ kinh tế học thì “năng lực cạnh tranh là khả năng giành được thị
phần lớn trước các đối thủ cạnh tranh trên thị trường, kể cả khả năng giành lại một
phần hay toàn bộ thị phần của đồng nghiệp”.
NHTM là một doanh nghiệp đặc biệt do đó năng lực cạnh tranh của NHTM có
nhiều điểm giống với năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Tuy nhiên, năng lực
cạnh tranh của NHTM có thể được định nghĩa như sau: “Năng lực cạnh tranh của
NHTM là khả năng ngân hàng đó tạo ra, duy trì và phát triển những lợi thế nhằm duy
trì và mở rộng thị phần; đạt được mức lợi nhuận cao hơn mức trung bình của ngành
và liên tục tăng đồng thời đảm bảo sự hoạt động an toàn và lành mạnh, có khả năng
chống đỡ và vượt qua những biến động bất lợi của môi trường kinh doanh” (PGS.TS.
Nguyễn Thị Quy – Năng lực cạnh tranh của các NHTM trong xu thế hội nhập).
1.1.2 Các chỉ tiêu phản ánh năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại và
các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại
Để có một cái nhìn đầy đủ và bản chất về hệ thống NHTM chúng ta không thể tách
rời hoạt động của NHTM ra khỏi hoạt động của toàn bộ hệ thống tài chính cũng không thể
không phân tích những yếu tố trong môi trường quốc gia về cầu, về các yếu tố sản xuất, về
các ngành liên quan và phụ trợ và tác động của các yếu tố đó đến hoạt động cũng như
năng lực tài chính của NTHM. Như vậy, hệ thống chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh
của hệ thống ngân hàng của một quốc gia bao gồm hai bộ phận: các chỉ tiêu đánh giá năng
lực cạnh tranh nội tại của các NHTM trên giác độ vi mô và các chỉ tiêu đánh giá tác động
của các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của hệ thống ngân hàng
1.1.2.1. Các chỉ tiêu phản ánh năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương
mại
*Các chỉ tiêu định lượng phản ánh năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương
mại
• Quy mô vốn chủ sở hữu và mức độ an toàn vốn
Quy mô vốn chủ sở hữu: về mặt lý thuyết, vốn điều lệ và vốn tự có đang đóng
vai trò rất quan trọng trong hoạt động ngân hàng. Vốn điều lệ cao sẽ giúp ngân hàng
tạo được uy tín trên thị trường và tạo lòng tin nơi công chúng. Quy mô vốn chủ sở
hữu phản ánh sức mạnh tài chính và khả năng chống đỡ rủi ro của ngân hàng đó.
Mức độ an toàn vốn: ngân hàng có quy mô vốn CSH lớn hơn sẽ được coi là có
ưu thế hơn, tuy nhiên thực tế cho thấy quy mô vốn CSH lớn không có nghĩa là có mức
độ an toàn vốn cao. Để đánh giá độ an toàn vốn của NHTM người ta sử dụng hệ số
CAR (hệ số an toàn vốn). Hệ số CAR chính là tỷ lệ giữa vốn CSH trên tổng tài sản có
rủi ro chuyển đổi (theo Ủy ban giám sát tín dụng Basel). Theo tiêu chuẩn quốc tế thì
CAR tối thiểu phải đạt 8%. Tỷ lệ này càng cao cho thấy khả năng tài chính của ngân
hàng càng mạnh, càng tạo được uy tín, sự tin cậy của khách hàng với ngân hàng càng
lớn.
Quy mô và khả năng huy động vốn
Khả năng huy động vốn là một trong những tiêu chí đánh giá tình hình hoạt
động kinh doanh của các ngân hàng. Khả năng huy động vốn tốt tức là ngân hàng đó
sử dụng các sản phẩm dịch vụ, hay công cụ huy động vốn có hiệu quả, thu hút được
khách hàng. Khả năng huy động vốn của ngân hàng thường được thể hiện qua các chỉ
tiêu sau:
- Quy mô tổng nguồn vốn huy động;
- Tốc độ tăng trưởng của tổng nguồn vốn huy động;
- Tổng nguồn vốn huy động/ Tổng nguồn vốn;
• Chất lượng tài sản có
Tài sản có của ngân hàng là phần nguồn vốn đưa vào kinh doanh và duy trì
khả năng thanh toán của ngân hàng đó. Chất lượng tài sản có là chỉ tiêu hợp nhất
phản ánh khả năng bền vững về mặt tài chính, khả năng sinh lời và năng lực quản lý
của một ngân hàng. Đây là yếu tố quan trọng hàng đầu và cũng là yếu tố phức tạp
nhất trong phân tích hoạt động ngân hàng. Chất lượng tài sản có được thể hiện thông
qua các chỉ tiêu như:
- Tốc độ tăng trưởng tín dụng;
- Tỷ lệ nợ xấu/ Tổng tài sản;
- Tổng dư nợ/ Nguồn vốn huy động;
- Khả năng thu hồi các khoản nợ xấu;
• Mức sinh lời
Mức sinh lời không những phản ánh kết quả tình hình hoạt động kinh doanh
của NHTM mà còn phản ánh một phần kết quả cạnh tranh của NHTM.
+ ROE (Reture on equity – thu nhập ròng trên vốn CSH)
Thu nhập sau thuế
ROE = x 100 (%)
Vốn chủ sở hữu
ROE là tỷ số phản ánh mức độ sinh lời cho chủ sở hữu từ một đồng vốn họ bỏ ra,
đo lường tỷ lệ thu nhập của các cổ đông đền bù cho việc chấp nhận rủi ro và đầu tư vào
ngân hàng. Vì vậy, ROE luôn được các chủ ngân hàng và các nhà quản lý quan tâm.
ROE cao sẽ thu hút được vốn đầu tư từ các nhà đầu tư, để tỷ lệ ROE cao ngân hàng cần
thông qua nhiều biện pháp như kiểm soát rủi ro hiệu quả, hạn chế khoản vay xấu,…
Tuy nhiên nếu ROE cao nhưng ROA thấp thì lại là một dấu hiệu không tốt. Vì
như vậy chứng tỏ vốn CSH của ngân hàng chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng nguồn
vốn. Tức là tỷ lệ vốn CSH trên tổng nguồn vốn nhỏ, dẫn đến nguy cơ rủi ro vỡ nợ
cao. Tỷ số ROE của các NHTM ở các nước luôn lớn hơn 15%.
+ ROA (Ruture on asset – Thu nhập ròng trên tổng tài sản)
Thu nhập sau thuế
ROA = x 100(%)
Tổng tài sản
Tỷ số ROA phản ánh hiệu quả kinh doanh của ngân hàng. ROA là một thông
số chủ yếu về tính hiệu quả quản lý của ban quản trị ngân hàng trong việc chuyển tài
sản thành thu nhập ròng. Tỷ lệ ROA lớn chứng tỏ hiệu quả kinh doanh tốt, ngân hàng
có cơ cấu tài sản hợp lý, sinh lời và linh hoạt.
+ NIM (Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên)
Thu từ cho vay và đầu tư – Chi phí trả lãi cho tiền gửi
NIM =
Tổng tài sản (hoặc tài sản sinh lời)
Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên đo lường mức chênh lệch giữa thu lãi từ tài sản
sinh lời và chi lãi cho nguồn vốn huy động của ngân hàng thông qua việc kiểm soát
chặt chẽ tài sản sinh lời và nguồn vốn có chi phí thấp nhất. Đây là thước đo tính hiệu
quả cũng như khả năng sinh lời, chúng cho thấy được năng lực của ngân hàng trong
việc duy trì sự tăng trưởng của các nguồn thu so với mức tăng của chi phí.
+ Tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên
Tỷ lệ thu nhập ngoài Thu ngoài lãi – Chi phí ngoài lãi
lãi cận biên =
Tổng tài sản
Tỷ lệ thu ngoài lãi cận biên đo lường mức chênh lệch giữa nguồn thu ngoài lãi
(gồm chủ yếu là thu từ phí dịch vụ) và chi phí ngoài lãi (gồm chi phí trả lương, chi
phí sửa chữa, bảo hành thiết bị và chi phí tổn thất tín dụng). Mặc dù thu từ phí dịch
vụ tăng rất nhanh trong thời gian gần đây nhưng các chi phí ngoài lãi thường lớn hơn,
do vậy mà tỷ lệ này ở các ngân hàng thường âm.
* Các chỉ tiêu định tính phản ánh năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương
mại
Các chỉ tiêu định tính thường được dùng để phản ánh năng lực cạnh tranh của
NHTM là: năng lực ứng dụng công nghệ thông tin, năng lực quản lý, mạng lưới kênh
phân phối, mức độ đa dạng hóa và chất lượng của các sản phẩm dịch vụ, nguồn nhân
lực, danh tiếng và khả năng hợp tác.
• Năng lực ứng dụng công nghệ thông tin
Để nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ nhằm đáp ứng mọi yêu cầu của khách
hàng thì nhu cầu công nghệ là vô cùng quan trọng. Công nghệ góp phần tạo nên những
chuyển biến mang tính độc đáo và tiện ích hơn, công nghệ là yếu tố tạo nên sự khác biệt
trong kinh doanh giữa các NHTM. Công nghệ thông tin trong lĩnh vực ngân hàng bao
gồm: hệ thống thanh toán điện tử, hệ thống ngân hàng bán lẻ, hệ thống máy rút tiền tự
động (ATM), hệ thống thông tin quản lý, hệ thống báo cáo rủi ro Vì vậy, khả năng
nâng cấp và đổi mới công nghệ của các NHTM cũng là chỉ tiêu phản ánh năng lực công
nghệ của một ngân hàng.
Năng lực quản lý, điều hành
Năng lực quản lý phản ánh năng lực điều hành của hội đồng quản trị cũng như
ban giám đốc của ngân hàng. Năng lực quản trị, kiểm soát và điều hành của nhà lãnh đạo
trong ngân hàng có vai trò rất quan trọng trong việc đảm bảo tính hiệu quả, an toàn trong
hoạt động ngân hàng. Tầm nhìn của nhà lãnh đạo là yếu tố then chốt để ngân hàng có
một chiến lược kinh doanh đúng đắn trong dài hạn. Một số tiêu chí thể hiện năng lực
quản trị của ngân hàng là:
- Chiến lược kinh doanh của ngân hàng: bao gồm chiến lược marketing (xây dựng
thương hiệu, uy tín); phân khúc thị trường; phát triển sản phẩm dịch vụ.
- Cơ cấu tổ chức và khả năng ứng dụng phương thức quản trị ngân hàng hiệu quả.
- Sự tăng trưởng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Mạng lưới kênh phân phối
Mạng lưới kênh phân phối thể hiện khả năng cung ứng các sản phẩm dịch vụ
ngân hàng đến với khách hàng. Mạng lưới kênh phân phối của NHTM thể hiện ở số
lượng các chi nhánh và các đơn vị trực thuộc và sự phân bố của các chi nhánh của
ngân hàng theo lãnh thổ địa lý.
● Mức độ đa dạng hóa và chất lượng của các sản phẩm dịch vụ
Mức độ đa dạng hóa của các sản phẩm dịch vụ là số lượng các sản phẩm mà
ngân hàng hiện đang cung cấp trên thị trường. Hiện nay, xã hội phát triển ở trình độ
cao thì nhu cầu về các dịch vụ ngân hàng ngày càng được xã hội đòi hỏi cao hơn, đặc
biệt là các sản phẩm dịch vụ ngân hàng hiện đại. Một ngân hàng sẽ có lợi thế cạnh
tranh hơn khi loại hình dịch vụ cung cấp đa dạng, phù hợp với nhu cầu của thị trường
thể hiện ở tính độc đáo và chất lượng của các sản phẩm dịch vụ.
Nguồn nhân lực
Đội ngũ nhân viên của ngân hàng chính là người trực tiếp đem lại cho khách
hàng những cảm nhận về ngân hàng và sản phẩm dịch vụ của ngân hàng, đồng thời
tạo niềm tin của khách hàng đối với ngân hàng. Đó chính là những đòi hỏi quan trọng
đối với đội ngũ nhân viên ngân hàng, từ đó giúp ngân hàng chiếm giữ thị phần cũng
như tăng hiệu quả kinh doanh để nâng cao năng lực cạnh tranh của mình.
• Danh tiếng, uy tín và khả năng hợp tác
Tâm lý của người tiêu dùng luôn là yếu tố quyết định đến sự sống còn đến
hoạt động của NHTM với hiệu ứng dây chuyền do tâm lý của người tiêu dùng
mang lại. Vì thế, danh tiếng và uy tín của NHTM là yếu tố nội lực vô cùng to lớn,
nó quyết định sự thành công hay thất bại cho ngân hàng đó trên thương trường.
Việc gia tăng thị phần, mở rộng mạng lưới hoạt động, tăng thu nhập phụ thuộc rất
nhiều vào uy tín của NHTM.
Ngoài danh tiếng và uy tín của mình, các NHTM còn phải thể hiện được sự
liên kết lẫn nhau trong hoạt động kinh doanh của mình, sự kiện một NHTM hợp tác
với một TCTD có uy tín và danh tiếng khác trên thương trường, hoặc sự hợp tác
chiến lược giữa các ngân hàng hay tổ chức tài chính, tập đoàn kinh tế lớn nào cũng
góp phần nâng cao sức mạnh cạnh tranh của NHTM đó trên thương trường.
1.1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương
mại
* Những yếu tố thuộc môi trường vĩ mô
• Những nhân tố thuộc môi trường kinh tế
Ngành ngân hàng là một ngành luôn đi kèm với sự phát triển của nền kinh tế.
Các yếu tố thuộc môi trường kinh tế ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của ngân
hàng như: nội lực của nền kinh tế quốc gia được thể hiện qua quy mô và mức độ tăng
trưởng của GDP, dự trữ ngoại hối…; độ ổn định của nền kinnh tế vĩ mô thông qua các
chỉ tiêu như chỉ số lạm phát, lãi suất, tỷ giá hối đoái, cán cân thanh toán quốc tế…; độ
mở cửa của nền kinh tế thể hiện qua các rào cản, nguồn vốn đầu tư trực tiếp, hoạt động
xuất nhập khẩu; tiềm năng tài chính, hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp hoạt
động trên địa bàn trong nước và hoạt động của các doanh nghiệp nước ngoài vào trong
nước.
Những nhân tố thuộc môi trường chính trị, pháp luật và vai trò của Chính
phủ
Đây là ba yếu tố cơ bản tạo nên thể chế quốc gia đồng thời cũng có những tác
động đến năng lực cạnh tranh của NHTM. Môi trường chính trị ổn định sẽ tạo điều
kiện cho việc thu hút đầu tư, thúc đẩy kinh tế phát triển. Do đó, sẽ có những tác động
tốt đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp cũng như các NHTM.
Luật pháp ở đây là các quy định của Nhà nước có liên quan đến lĩnh vực ngân
hàng. Với đặc điểm đặc biệt trong hoạt động kinh doanh của NHTM chịu chi phối và
ảnh hưởng của rất nhiều hệ thống pháp luật khác nhau như luật dân sự, luật xây dựng,
luật đất đai, luật cạnh tranh, luật các tổ chức tín dụng.
Chính phủ đóng vai trò là chất xúc tác quan trọng đối với bất cứ ngành nào
trong nền kinh tế đặc biệt là đối với lĩnh vực ngân hàng. Thông qua NHTW, Chính
phủ giữ vai trò là nhà quản lý và giám sát của toàn hệ thống. Chính phủ đồng thời là
người hoạch định chính sách và đường lối phát triển chung của toàn hệ thống, tác
động đến cung cầu, đến ổn định kinh tế vĩ mô, đến các điều kiện nhân tố sản xuất,
đến các ngành liên quan và phụ trợ ngành ngân hàng. Bên cạnh đó, NHTM được xem
là một trung gian để NHTW thực hiện CSTT của mình. Do vậy, sức cạnh tranh của
các NHTM phụ thuộc rất nhiều vào CSTT, tài chính của chính phủ và NHTW.
• Những nhân tố thuộc môi trường văn hóa, xã hội
Các yếu tố này tác động nhiều nhất đến khách hàng và nguồn nhân lực của
ngành ngân hàng như: trình độ dân trí; thói quen tiêu dùng và tiết kiệm; thói quen sử
dụng tiền mặt; lòng tin của dân chúng đối với ngân hàng; thu nhập của dân cư; nhu
cầu sử dụng các dịch vụ ngân hàng của dân cư… Nguồn nhân lực của ngân hàng
cũng chịu sự tác động của môi trường văn hóa, xã hội qua các nhân tố như: trình độ
dân trí, quan điểm về kinh doanh, quan niệm đạo đức…
• Sự phát triển của thị trường tài chính và các ngành phụ trợ liên quan với
ngành ngân hàng
Thị trường tài chính trong và ngoài nước phát triển mạnh là điều kiện để các
ngân hàng phát triển và gia tăng, từ đó dẫn đến mức độ cạnh tranh giữa các ngân
hàng cũng gia tăng, đặc điểm của thị trường tài chính là các định chế tài chính có
mối liên hệ rất chặt chẽ và bổ trợ lẫn nhau như các ngành: bảo hiểm, thị trường
chứng khoán, ngân hàng.
Ngoài ra, sự phát triển của khoa học kỹ thuật cũng như sự phát triển của các
ngành, lĩnh vực khác như tin học viễn thông, giáo dục đào tạo, kiểm toán… cũng có
những ảnh hưởng đến sự phát triển cũng như năng lực cạnh tranh của ngân hàng.
Đây là những ngành phụ trợ mà sự phát triển của nó giúp ngân hàng nhanh chóng đa
dạng hóa các dịch vụ, tạo lập thương hiệu và uy tín, thu hút nguồn nhân lực cũng như
có những kế hoạch đầu tư hiệu quả trong một thị trường tài chính vững mạnh.
• Sự gia tăng nhu cầu sử dụng dịch vụ ngân hàng trong nền kinh tế
Với sự tự do hóa và hội nhập thị trường tài chính tiền tệ, sự cạnh tranh đối với
ngành ngân hàng tất yếu sẽ ngày càng trở nên gay gắt và quyết liệt hơn, không những
là sự cạnh tranh giữa các ngân hàng mà còn là sự cạnh tranh của các ngân hàng với
các tổ chức tài chính phi ngân hàng khác. Cạnh tranh giữa các ngân hàng không chỉ
dừng lại ở các dịch vụ truyền thống mà mở rộng ra các loại dịch vụ ngân hàng hiện
đại khác. Hơn nữa nhu cầu về các dịch vụ này ngày càng cao thể hiện ở các mặt sau:
Sự biến đổi về cơ cấu dân cư, sự tăng dân số, sự tăng lên của các khu công
nghiệp, khu đô thị mới dẫn đến nhu cầu sử dụng dịch vụ ngân hàng tăng lên rõ rệt.
Thu nhập bình quân đầu người ở hầu hết các quốc gia đều được nâng lên, qua
đó các dịch vụ ngân hàng cũng sẽ có những bước phát triển tương ứng.
Các hoạt động giao thương quốc tế ngày càng phát triển làm gia tăng nhu cầu
thanh toán quốc tế qua ngân hàng.
Số lao động di cư giữa các quốc gia tăng lên nên nhu cầu chuyển tiền cũng
như thanh toán qua ngân hàng có chiều hướng tăng cao.
Ngoài ra, thị trường tài chính càng phát triển thì khách hàng càng có nhiều sự
lựa chọn. Các yêu cầu của khách hàng đối với dịch vụ ngân hàng sẽ ngày càng cao
hơn cả về chất lượng, giá cả, các tiện ích lẫn phong cách phục vụ. Đây chính là áp
lực buộc các ngân hàng phải đổi mới và hoàn thiện mình hơn nhằm đáp ứng nhu cầu
của khách hàng và nâng cao khả năng cạnh tranh của mình.
* Các nhân tố thuộc môi trường vi mô
• Tác nhân từ phía các NHTM mới tham gia thị trường
Các NHTM mới tham gia thị trường có những lợi thế quan trọng so với các
NHTM hiện tại như: mở ra những tiềm năng mới; có động cơ và ước vọng giành
được thị phần; đã tham khảo kinh nghiệm từ những NHTM đang hoạt động; có đầy
đủ các thống kê và dự báo về thị trường;… Như vậy, bất kể thực lực của NTHM mới
thế nào thì các NHTM hiện tại cũng đã thấy một mối đe dọa về khả năng thị phần bị
chia sẻ; ngoài ra, các NHTM mới có những kế sách và sức mạnh mà các NHTM hiện
tại chưa thể có thông tin và chiến lược ứng phó.
• Tác nhân là các NHTM hiện tại
Các NHTM hiện tại là các NHTM cùng quốc gia và các NTHM quốc tế. Do đặc
điểm của các sản phẩm dịch vụ ngân hàng có tính vô danh, không có khả năng đăng kí
bản quyền như sản phẩm của các ngành khác, do đó, khi có một sản phẩm mới ra đới rất
dễ bị bắt chước. Do vậy, các NHTM luôn phải đối đầu với sự cạnh tranh gay gắt từ các
ngân hàng. Đối thủ cạnh tranh ảnh hưởng rất lớn đến chiến lược hoạt động kinh doanh
của NHTM trong tương lai.
• Tác nhân từ phía khách hàng
Điểm đặc biệt trong khách hàng của NHTM so với các doanh nghiệp nói
chung là khách hàng của ngân hàng vừa là người cung cấp, đồng thời là người tiêu
dùng sản phẩm dịch vụ của ngân hàng. Với vai trò là người bán sản phẩm thông qua
các hình thức gửi tiền, lập tài khoản giao dịch… đều mong muốn nhận được lãi suất
cao. Như vậy ngân hàng phải đối mặt với sự mâu thuẫn giữa hoạt động tạo lợi nhuận
và việc giữ chân khách hàng cũng như có được nguồn vốn thu hút rẻ nhất có thể.
• Tác nhân là sự xuất hiện các dịch vụ mới
Sự ra đời ồ ạt của các trung gian tài chính đe dọa lợi thế của các NTHM khi
cung cấp các dịch vụ tài chính mới cũng như các dịch vụ truyền thống mà các NHTM
vẫn đảm nhiệm. Các trung gian này cung cấp cho khách hàng những sản phẩm mang
tính khác biệt và tạo cho người mua sản phẩm có cơ hội chọn lựa đa dạng hơn, thị
trường ngân hàng mở rộng hơn. Điều này tất yếu sẽ tác động làm tất yếu sẽ tác động
làm giảm đi tốc độ phát triển của các NHTM, suy giảm thị phần.
1.1.3. Phương pháp đánh giá năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại
Có nhiều phương pháp để đánh giá năng lực cạnh tranh của NHTM. Dưới đây
là phương pháp đánh giá theo mô hình SWOT.
Phân tích SWOT là việc đánh giá một cách chủ quan các dữ liệu được sắp
xếp theo định dạng SWOT dưới một trật tự lôgic dễ hiểu, dễ trình bày, có thể sử
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét