Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Trên địa bàn thành phố các hệ thống xử lý nước thải, chất thải trong khu
đô thị, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu du lịch tuy được quan tâm nhưng
vẫn chưa hoàn thiện và đồng bộ, các khu vực khai thác than, sản xuất vật liệu
xây dựng, hoá chất vẫn chưa có giải pháp bảo vệ môi trường hợp lý, thường
gây ô nhiễm không khí, đất đai, nguồn nước, môi trường biển…
Cụ thể qua kết quả nghiên cứu về ô nhiễm bụi ở thành phố cho thấy:
Bụi lắng tại phường Hồng Hà là 0,01mg/m
3
. Bụi lắng tại nội thị thành
phố Hạ Long (phường Bạch Đằng 0,18mg/m
3
. Tại các khu vực có hoạt động
san lấp mặt bằng và vận chuyển than nồng độ bụi lắng tới 0,04 - 0,08mg/m
3
.
Tiêu chuẩn cho phép có nồng độ giới hạn là 0,03mg/m
3
.
Chất lượng môi trường vùng vịnh Hạ Long:
Ô nhiễm về hữu cơ: còn trong giới hạn cho phép
Ô nhiễm Hyđrô các bua dầu: khi có tầu chở dầu 1 vạn tấn, các xà lan
đến lấy dầu, vịnh Hạ Long bị ô nhiễm nặng, gấp 3 lần đối với môi trường du
lịch. (Giới hạn cho phép về dầu mỏ trong nước biển qui định: môi trường thuỷ
sản là 0,05 mg/lít, môi trường du lịch là 0,3mg/lít).
Ô nhiễm kim loại nặng trong nước biển tại cảng dầu Cửa Lục ở mức
báo động.
Ô nhiễm kẽm trong nước biển tại cảng dầu phà Bãi Cháy, cảng Hòn Gai
đều cao hơn giới hạn cho phép từ 2,8 - 3,7 lần.
3. Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội
Tăng trưởng kinh tế: Kinh tế có bước phát triển khá toàn diện và vững
chắc, tăng trưởng kinh tế hàng năm đạt 12,6%/năm, lĩnh vực du lịch tăng bình
quân 12,9%/năm, ngành nông nghiệp tăng bình quân 4,2%/năm. GDP bình
quân đầu người năm 2003 đạt 1.068,3USD gấp 2,1 lần so với bình quân
chung của cả nước.
4. Điều kiện kinh tế - xã hội khu vực thực hiện dự án
5
Vũ Văn Dũng - Lớp: Kinh tế Môi trường 44
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Dự án được thực hiện có liên quan tới địa phận của 3 phường: phường
Hồng Hà, Hà Tu, Hà Trung.
Điều kiện kinh tế - xã hội phường Hồng Hà
Đường vận chuyển than, khu vực cảng và nhà máy cơ khí nằm trong địa
phận phường Hồng Hà. Việc vận chuyển than ra cảng. Đây là một trong
những phương chính của thành phố Hạ Long và có số dân khá đông. Trong
năm 97 tổng số hộ dân của phường chỉ là 2.773 hộ gia đình nhưng hiệnnay
chỉ riêng tổ 2A (khu dân cư gần bãi thải) đã lên đến 315 hộ gia đình. Toàn
phường hiện nay có 11 khu và lượng dân mới chuyển đến khá đông, tổng số
có 3400 hộ (trong đó có 22 hộ nghèo). Cơ cấu ngành nghề lao động của dân
cư gồm: công nhân viên chức, công nhân mỏ, kinh doanh buôn bán nhỏ.
Diện tích đất của phường 331,5ha trong đó chủ yếu là đất nông nghiệp
(44,4ha) và đất phi nông nghiệp.
Tuyến đường giao thông chính của tỉnh Quảng Ninh chạy qua địa phận
phường là đường 18A, các tuyến đường trong khu vực phường chủ yếu là
đường rải xỉ (20%), bê tông (70%), đất (5%). Ngoài đường bộ trong địa phận
phường còn có đường thuỷ nhưng chủ yếu là sử dụng để vận chuyển than.
Điều kiện cơ sở hạ tầng phường Hồng Hà: Hệ thống nước sinh hoạt
trong phường là nước máy. Hệ thống thoát nước thải và nước mặt của khu
Hồng Hà có nhưng đã xuống cấp. Quanh khu vực nhà máy tuyển và bãi thải
đều có mương thoát nước thải nhưng đều bị bùn làm giảm dòng chảy, khả
năng tiêu thoát nước chậm. Rác thải sinh hoạt trong phường do Công ty vệ
sinh môi trường Quảng Ninh thực hiện.
Điều kiện kinh tế - xã hội phường Hà Tu
Một phần khu vực khai thác Hồ Tu, vỉa 11 nằm trong địa phận phường
Hà Tu. Đây là một trong những phương chính của thành phố Hạ Long và có
diện tích đất 1536,3 ha, trong đó đất nông nghiệp là 1,18ha, đất công nghiệp
là 82,68 ha. Là một phường có số dân khá đông. Trong năm 2003 tổng số hộ
6
Vũ Văn Dũng - Lớp: Kinh tế Môi trường 44
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
dân của phường là 2.949 hộ gia đình với số khẩu là 11.057 người. Cơ cấu
ngành nghề lao động của dân cư gồm: công nhân viên chức, công nhân mỏ,
kinh doanh buôn bán nhỏ. Số người làm việc trong các xí nghiệp tại địa
phương khoảng 4000 người. Thu nhập bình quân của người dân là
400.000đồng/tháng (cao nhất là 4.000.000 đồng/tháng, thấp nhất là
100.000đồng/tháng), số hộ giầu và khá 500 hộ, số hộ nghèo có 05 hộ.
Tuyến đường giao thông chính của tỉnh Quảng Ninh chạy qua địa phạn
phường là đường 18A, các tuyến đường trong khu vực phường chủ yếu là
đường bê tông chiếm 85%, đường cấp phối 5% và đường đất chiếm 10%.
Ngoài đường bộ trong địa phương phường còn có đường sắt nhưng chủ yếu
là sử dụng để vận chuyển than của mỏ than Hà Tu và Tân Lập.
Điều kiện cơ sở hạ tầng phường Hà Tu: Trong khu vực phường có 02
trường học và 02 cơ quan, 01 chợ, 02 nghĩa trang, 01 đình chùa. Hệ thống
nước sinh hoạt trong phường là nước máy. Hệ thống thoát nước thải và nước
mặt của khu Hà Tu có nhưng đã xuống cấp. Trong khu vực có suối Hà Tu đã
được xay kè hai bên bờ suối và nạo vét đá khơi thông dòng chảy, khả năng
tiêu thoát nước nhanh. Rác thải sinh hoạt trong phường do Công ty vệ sinh
mô trường thực hiện.
Điều kiện kinh tế - xã hội phường Hà Trung
Một phần khu vực khai thác nằm trong địa phận phường Hà Trung. Một
bộ phận dân cư nằm cách bãi thải và khu vực khai thác 500m. Đây là một
phường của thành phố Hạ Long và có diện tích đất 7,50ha, trong đó đất nông
nghiệp là 1,18ha, đất công nghiệp là 3,5ha. Là một phường có số dân khá
đông. Trong năm 2003 tổng số hộ dân của phường là 1.669 hộ gia đình với số
khẩu là 7.280 người. Cơ cấu ngành nghề lao động của dân cư gồm: công nhân
viên chức, công nhân mỏ, kinh doanh buôn bán nhỏ. Số người làm việc trong
các xí nghiệp tại địa phương khoảng 1.500 người. Thu nhập bình quan của
7
Vũ Văn Dũng - Lớp: Kinh tế Môi trường 44
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
người dân là 400.000 đồng/tháng (cao nhất 3.500.000 đồng/tháng, thấp nhất là
100.000 đồng/tháng), số hộ giàu và khá 300 hộ, số hộ nghèo có 42 hộ.
Tuyến đường giao thông của tỉnh Quảng Ninh chạy qua địa phận
phường là đường 18B, các tuyến đường trong khu vực phường chủ yếu là
đường bê tông chiếm 75% và đường đất chiếm 25%.
Điều kiện cơ sở hạ tầng phường Hà Trung: Trong khu vực phường có
02 trường học và 03 cơ quan, 01 chợ. Hệ thống nước sinh hoạt trong phường
là nước giếng, dân sử dụng nước máy chỉ chiếm 25%. Hệ thống thoát nước
thải và nước mặt của khu Hà Trung có nhưng đã xuống cấp. Trong khu vực có
suối nước Hà Trung - Hà Lầm đã được xây kè hai bên bờ suối và nạo vét đá
khơi thông dòng chảy, khả năng tiêu thoát nước nhanh. Rác thải sinh hoạt do
Công ty vệ sinh môi trường Hạ Long thực hiện.
5. Tình hình sản xuất kinh doanh cũng như cơ sở vật chất hạ tầng
mỏ than Núi Béo
Là một mỏ than lộ thiên lớn của Tập đoàn than - khoáng sản Việt Nam,
nằm ở phía Đông - Đông Bắc thành phố Hạ Long. Mỏ cách trung tâm thành
phố Hạ Long trên 10 km về phía Đông. Theo báo cáo sản xuất kinh doanh của
mỏ than Núi Béo năm 2005:
Sản lượng khai thác đạt trên 1,5 triệu tấn than, khối lượng tiêu thụ đạt
1,117 triệu tấn, doanh thu đạt 254,871 tỷ đồng. Công ty có 2333 công nhân,
cùng hệ thống mặt bằng văn phòng nhà xưởng rộng lớn.
6. Định hướng khai thác mở rộng
Mỏ than Núi Béo với quá trình khai thác và sản xuất lâu dài, công suất
hiện nay đã gần đạt đến mức thiết kế. Ngoài ra đáp ứng các nhu cầu sản xuất
và tiêu thụ than trong nước ngày càng cao. Việc mở rộng sản xuất là một quá
trình tất yếu.
Công suất của phần mở rộng được xác định phù hợp với "tổng sơ đồ
phát triển ngành than giai đoạn 2001-2010 có xét triển vọng đến 2020" của
8
Vũ Văn Dũng - Lớp: Kinh tế Môi trường 44
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Tập đoàn than và khoáng sản Việt Nam. Công suất tối đa của mỏ than Núi
Béo là 2 triệu tấn than/năm tương ứng khối lượng đất đá bóc tối đa là 12 ÷ 14
triệu m
3
/năm. Việc mở rộng khai thác tại công trường vỉa 14 và vỉa 11. Dự
kiến khai thác lộ thiên. Tổng khối lượng sản lượng khai thác của 2 vỉa này
khoảng 600.000 tấn/năm tương ứng với khối lượng đất đá bóc tách khoảng
7,2-8,4 triệu tấn đất dá. Việc thực hiện khai thác kéo dài trong 10 năm tạo
công ăn việc làm cho 1000 lao động.
Để thực hiện dự án, mỏ than Núi Béo cần đầu tư các nguồn vốn tài sản
hiện có của công ty và một phần khác vay của ngân hàng đầu tư phát triển với
mức lãi suất là 5,4%/năm.
9
Vũ Văn Dũng - Lớp: Kinh tế Môi trường 44
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
CHƯƠNG II
HIỆN TRẠNG MỎ THAN NÚI BÉO VÀ KHU VỰC
MỞ RỘNG KHAI THÁC THAN
I. ĐIỀU KIỆN ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN KHU MỎ
1. Vị trí địa lý
Khai trường mở rộng mỏ than Núi Béo được nghiên cứu thiết kế nằm
trong khu vực có giới hạn toạ dộ: X = 18 600 - 20 400; Y = 408.800 - 411.400
Khai trường mỏ than Núi Béo nằm cách trung tâm thành phố Hạ Long
7km về phía Đông. Phía Tây giáp khu Bình Minh. Phía Đông tiếp với khu mỏ
Tân Lập. Phía Bắc giáp khu mỏ Hà Tu. Phía Nam giáp quốc lộ 18A.
2. Địa hình:
Tại công trường vỉa 14, địa hình thấp nhất hiện tại mức -36 tại lộ vỉa
phía Đông. Tại công trường vỉa 11 địa hình thấp nhất hiện tại mức -36 tại lộ
vỉa phía Tây. Đỉnh cao nhất tại địa hình khu vực có độ cao +150m ở phía Bắc.
Phần lớn địa hình khu mỏ không còn nguyên thuỷ mà đã bị khai thác ở
các khu vực, địa hình bị cắt bởi các tầng khai thác của các công trường khai
thác lộ thiên vỉa 11 và 14.
Phần khai thác mở rộng sang phía hồ Hà Tu, hồ này nằm ở sát phía
Đông khai trường vỉa 11.
3. Sông suối
Trong khu vực có hai con suối, về mùa cạn lưu lượng nước nhỏ. Suối
Hà Lầm chảy về phía Tây và suối Hà Tu chảy về phía Đông, lòng suối phẳng,
rộng từ 1-4m.
Đến nay do việc khai thác than nên lưu lượng suối hoàn toàn phụ thuộc
vào quá trình thoát và thải nước nhỏ.
Địa hình khu mỏ bị chia cắt bởi các dải bồi liên tiếp tạo nên nhiều khe
cạn quanh năm, các khe cạn chỉ có nước vào mùa mưa. Trong khu vực mỏ
10
Vũ Văn Dũng - Lớp: Kinh tế Môi trường 44
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
than Núi Béo cũng như khu vực mở rộng sản xuất của công ty không có sông
suối chảy qua.
4. Khí hậu khu mỏ
•
Các yếu tố khí tượng:
Mỏ than Núi Béo nằm trong vùng chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới
gió mùa. Các yếu tố khí tượng ảnh hưởng tác động trực tiếp đến khai thác mỏ.
Trong năm khí hậu phân thành 2 mùa rõ rệt: Mùa khô và mùa mưa.
Các yếu tố về khí tượng của khu vực dự án đo được tại các trạm quan
trắc khí tượng ở Hòn Gai, Cẩm Phả và Cửa Ông được thể hiện như sau:
- Mưa mưa:
Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10 trong năm. Vào mùa mưa khí
hậu thường nắng nóng, mưa rào đột ngột và chịu ảnh hưởng của các cơn bão
từ biển Đông kéo vào. Lượng mưa thay đổi từ 1.250-2.850mm, tập trung vào
tháng 6 đến tháng 9.
Thời kỳ này có đợt mưa kéo dài từ 3-4 ngày với lượng tổng cộng 400-
500mm.
- Lượng mưa nhỏ nhất trong tháng tại các trạm Hòn Gai, Cẩm Phả, Cửa
Ông.
- Lượng mưa trung bình trong tháng tại trạm Hòn Gai: 536,4mm
- Lượng mưa lớn nhất trong tháng tại trạm Hòn Gai: 1.257mm
- Lượng mưa nhỏ nhất trong năm tại trạm Hòn Gai: 1.027mm
Hướng gió Nam và Đông Nam, không khí ẩm ướt, độ ẩm cao, độ ẩm
trung bình từ 60-80%. Nhiệt độ trung bình thay đổi từ 25
0
C - 30
0
C, có những
ngày nhiệt độ lên tới 35
0
C - 37
0
C.
- Mùa khô
Mùa khô bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau. Hướng gió Bắc và
Tây Bắc, không khí khô ráo, độ ẩm nhỏ, độ ẩm trung bình từ 30% - 40%.
Nhiệt độ trung bình thay đổi từ 15
0
C - 18
0
C. Những ngày giá rét nhiệt độ có
11
Vũ Văn Dũng - Lớp: Kinh tế Môi trường 44
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
thể xuống tới 3
0
C. Thời gian này thường có gió mùa Đông Bắc cùng với mưa
phùn, giá rét và sương mù. Lượng mưa tối đa trong suốt mùa khô không quá
89mm.
5. Đặc điểm bãi thải mỏ hiện nay và hoạt động khai thác hiện nay
liên quan đến khu vực mở rộng
Các bãi thải mỏ đã hình thành theo thiết kế giai đoạn I, đổ thải tại bãi
thải Bắc vỉa 11. Sau dó, các khu vực đổ thải cho toàn vùng đã được tính toán
xác định lại khả năng đổ thải và phương án đổ thải đã được xác định trong qui
hoạch khai thác - vận tải - thoát nước cụm mỏ lộ thiên vùng Hòn Gai lập
tháng 12 năm 1999. Công tác đổ thải của dự án khai thác cải tạo mở rộng sản
xuất được thiết kế đổ thải trên cơ sở qui hoạch này, việc sử dụng đổ thải vào
khu vực công ty than Hà Lầm đã khai thác xong là điều kiện thuận lợi cho
công tác mở rộng sản xuất của Công ty. Hoạt động khai thác hiện nay đã và
đang mở rộng sản xuất của Công ty. Hoạt động khai thác hiện nay đã và đang
mở rộng khai trường vỉa 11 về phía hồ Hà Tu và khai trường vỉa 14 về phía
vỉa 14 Tay phay K thuộc Công ty than Hà Lầm.
II. TÀI NGUYÊN ĐẤT RỪNG, SINH VẬT TRONG RANH GIỚI KHU MỎ
1. Tài nguyên đất
Toàn bộ mỏ than Núi Béo được nghiên cứu thiết kế mở rộng nằm trong
khu vực có diện tích khai trường rộng 650 ha.
2. Tài nguyên rừng, sinh vật
Hiên nay, nguồn tài nguyên rừng và hệ sinh thái ở khu vực mỏ rất
nghèo nàn, cây cối thưa thớt, ít có giá trị, không có thực vật rừng, động vật
rừng quý hiếm thuộc nhóm I và nhóm II theo nghị định số 18/HĐBT ngày 17
tháng 01 năm 1992 của Hội đồng Bộ trưởng do việc khai thác tại đây đã được
thực hiện từ thời Pháp thuộc.
Khu vực khai trường của Mỏ than Núi Béo là vùng núi cao trung bình,
có độ dốc địa hình lớn. Trong phạm vi diện tích mỏ được cấp, phần đất phủ
12
Vũ Văn Dũng - Lớp: Kinh tế Môi trường 44
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
trong ranh giới mỏ rất nghèo, phần lớn đất trong ranh giới mỏ chủ yếu là đồi
trọc. Các loại cây cối ở đây thường là bụi cây nhỏ, dây leo thưa thớt, ít có giá
trị sử dụng. Trong diện tích đất do mỏ quản lý chỉ có một số loài cây: Mua
lông, me rừng, chổi xể, cỏ tranh, lách, sậy khô, sim… Nhìn chung đất chỉ
thích hợpvới các cây trồng chủ yếu là bạch đàn, keo tai tượng (hiện trong khu
vực đã trồng 8,5ha bạch đàn, keo tai tượng…)
Tóm lại đất đai ở khu vực các khai trường có độ dinh dưỡng thấp,
không thích hợp để canh tác và trồng rừng, cây ăn quả.
Khai thác tài nguyên khoáng sản mang lại lợi ích về thu nhập quốc dân
và mang lại việc làm cho người lao động, nhưng phát triển ngành công nghiệp
khai khoáng cũng gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường và sức khoẻ
con người.
Có nhiều cách phân loại tác động của khai thác tài nguyên khoáng sản
đến môi trường tự nhiên. Hợp lý hơn cả là xếp loại theo từng yếu tố của môi
trường sinh thái, các yếu tố đó bao gồm: Nước (gồm nước ngầm, nước mặt);
Không khí; Đất đai thổ nhưỡng, lớp đất phủ, diện tích đất nông nghiệp và đất,
chất lượng đất. Thực vật và động vật.
Bước đầu tiên trong việc đánh giá những tác động của khai thác tài
nguyên khoáng sản đến môi trường là cần xác định rõ và phân loại thành tác
động tích cực và tác động tiêu cực.
Việc xác định nguyên nhân gây tác hại đến môi trường và đề xuất giải
pháp khắc phục là vấn đề của khoa học công nghệ, các giải pháp lựa chọn
phải khả thi và kinh tế. Nhưng việc đánh giá tác động của chúng đến môi
trường không chỉ là vấn đề khoa học công nghệ mà còn là vấn đề kinh tế xã
hội.
Công tác mở rộng khai thác của khai trường diễn ra có tính liên tục theo
công suất khai thác từng năm do đó việc đánh giá tác động tới môi trường của
dự án sẽ được xem xét trong suốt cả đời mỏ.
13
Vũ Văn Dũng - Lớp: Kinh tế Môi trường 44
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Dưới đây là những phân tích và đánh giá của các hoạt động khai thác lộ
vỉa đến môi trường trên cơ sở khảo sát thực tế hiện trường, các thông tin thu
thập và số liệu đo đạc liên quan đến môi trường.
14
Vũ Văn Dũng - Lớp: Kinh tế Môi trường 44
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét