Thứ Hai, 21 tháng 4, 2014

Tấm ván phóng dao - Mạc Can


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Tấm ván phóng dao - Mạc Can": http://123doc.vn/document/570445-tam-van-phong-dao-mac-can.htm


mây đen, còn có một cột mây lẫn nước cuốn tròn xoáy trong gió. Mẹ
tôi cho mọi người biết đó là ông rồng đang hút nước? Có mấy ai coi
trọng gánh hát bèo bọt bán thuốc dạo, nhưng mọi người thật vui khi có
chiếc ghe xập xệ hát xiệc của Sạc lô Trần tới. Trên tấm vải nhựa Cha
tôi bày đủ trò, tôi đánh trống, em gái tôi ngồi cạnh gõ cái phèng la, anh
tôi chuẩn bị những lưỡi dao, vì chính anh là người phóng dao.
Đám đông vây tròn chúng tôi, ở hàng thượng hạng là đám con nít,
nhiều đứa để đầu ba vá, lem luốc, ở truồng, la hét, chen lấn giành chỗ.
Chú Tài “say” cầm cây roi mây đi vòng trong sân giữ trật tự. Khán giả
người lớn cười nói vui vẻ, là mấy bà già trầu xách giỏ đi chợ, là đàn
ông trọng tuổi đầu búi tó củ hành, rồi các cô gái trẻ bên cạnh chàng trai
làng, chợ quê nhộn nhịp đầu trên xóm dưới, bởi tiếng trống của tôi thúc
giục, tôi thích tiếng vang đanh giòn của mặt trống da bò, căng thẳng tới
nỗi nhảy tưng cặp dùi trống bằng gỗ mun, màu nâu, cầm lâu ngày lên
nước láng bóng bởi mồ hôi tay.
Em gái tôi nhỏ xíu ngồi gõ nhịp phèng la, cây dùi chạm vào mặt đồng,
rất ăn ý với tiếng trống, rất nhịp nhàng với tiếng nói sang sảng của Cha
chúng tôi. Ông lớn tiếng nhưng tướng thấp lùn, ông rất hãnh diện khi
khoe với khán giả bộ chân cheo của ông. Ông có thể dlùng ngón chân
đi một bài quyền trên chừng một chục trứng gà mà trứng không bể, ông
gọi đó là thuật “khinh công”, những người làm nghề Sơn Đông mãi võ
thường luyện võ nghệ phòng thân, cha tôi cũng phải như vậy. Ông còn
làm Sạc lô với cái nón tròn như quả dưa hấu, và cây gậy mây, búng một
cái cặp ngay vô nách, cái nón bay khỏi ót ông làm khán giả khoái chí
cười rần, trò vui nhứt ở đâu cũng thích là trò ông tướng thầy ba biết đi
vô nhà lồng chợ ăn cắp thịt heo.
Cha tôi đứng giữa sân khấu đất, ông rất dạn chuyện ăn nói, tiếng Tây
tiếng Tàu, tiếng Miên ông biết mỗi thứ một chút, ngoài ra còn những
chuyện tiếu lâm ngắn làm mấy cô gái nghe nhằm đỏ mặt tía tai. Trên
sân diễn không hiếm chi chuyện ông gây lộn với khán giả, nếu như có
ai nói sốc ông. Còn đám du thủ du thực, chuyên môn móc túi sợ Cha tôi
như thần, nếu Cha tôi trông thấy chúng nó móc túi ai, lập tức ông quên
ông đang là nghệ sĩ, ông nhảy tới tóm cổ nó thoi liền tại chỗ, ông có
ngón đòn “sa bù lu” ra tay là bọn móc túi lỗ mũi ăn trầu. Nhiều lần như
vậy khiến cho Mẹ tôi lo:
- Tụi nó móc túi người ta chớ nó móc túi ông đâu mà ông lo chuyện ba
láp, nó thù vặt chém lén là mệt nha, nó tiểu nhơn đánh lén lưng mình
phải sợ chớ.
Nhưng Cha tôi vẫn vậy, nóng như Trương Phi, thấy chuyện bất bình
chẳng tha. Khán giả miền quê vừa ớn vừa khoái cha tôi mới là vui. Cha
tôi rất ghét tay biện chà hống hách, cho nên khi nó nhờ ông nhổ cái
răng, ông cố ý nhổ cho nó nhảy dựng lên, làm cho ai cũng hả giận, mà
tay biện chà khó nói điều gì. Sạc lô Trần là một phần kỷ niệm của cô
bác khán giả, sau nầy khi tôi đã lớn tuổi, nhiều người hỏi tôi, có phải là
con của Sạc lô Trần không, tôi thưa là phải, lập tức cô bác gởi lời thăm
Cha tôi mạnh giỏi, với nụ cười trên môi. Chính tôi cũng là một khán giả
hâm mộ Cha tôi nhứt hạng. Trong đêm trường tĩnh mịch, tôi thường
thấy ông cặm cụi một mình chế biến những trò ảo thuật vui, lúc đó tôi
thương Cha tôi không kể xiết, ông là một nghệ sĩ cô độc, trong con
người nhỏ bé nầy, có một tâm hồn nào khác hơn, trọng nghĩa khinh tài,
khó ai hiểu hết được.
Tôi không quên hình ảnh ông nơi sân khấu đất, sân khấu nầy quả là khó
diễn hơn sân khấu rạp lớn, khán giả ngồi rất gần, nhứt là đối với nghệ sĩ
ảo thuật, sân khấu đất, có lẽ là như bây giờ người ta gọi là sân khấu
nhỏ.
Cần phải đủ bản lĩnh tiếp cận người xem. Cha tôi là một trong những
kịch sĩ bẩm sinh, độc diễn giỏi, có duyên nói, đi vào lòng người, ông
đóng vai của chính ông, với nhiều sáng tạo, và đã đi vào những giai
thoại của khán giả bình dân. Người ta nói Sạc lô Trần dẫn con trâu qua
ống chỉ, điều đó tôi chưa thấy mà cũng không có ai thấy, những lời đồn
đại nầy làm cho Cha tôi nổi tiếng thêm, nơi những chợ quê, khi đó chưa
có nhiều trò giải trí, nhiều nghệ sĩ tài năng hơn như hiện nay.
Tôi đang nghe tiếng chính tôi cười khi nhớ lại trò ông tướng thầy ba.
Cha tôi rất tinh nghịch, ông vừa nói giễu vừa xé một tờ giấy nhựt trình.
Ông khéo tạo mảnh giấy vụn thành một hình nhân, ông trêu chọc hình
nhân nầy với nhiều lời bóng gió tay biện chà, khiến cho bà con đứng
ngoài hả đã, cười ngất ngư
- Đây là ông tướng thầy ba đui then hồi nhỏ khó nuôi, má ổng đen thui
cho nên đặt ổng tên là ông lô xí sộ, thầy ba ơi nói chuyện chút coi, thầy
ba ơi.
- Ơi!
Có tiếng trả lời như tiếng con nít, làm cho khán giả hết hồn, thiệt ra chỉ
có mình Cha tôi nói, đó là trò khẩu thuật nói tiếng bụng, Cha tôi lại
“hỏi” thầy ba rằng:
- Thầy đi vô nhà lồng chợ ăn cắp thịt heo được hông, trả lời?
- Được!
Tiếng thầy ba trả lời dẻo nhẹo, như bà bóng. Cha tôi hỏi:
- Thầy ba nói được là phải làm được nghe chưa. Bây giờ thầy ba chịu
khó cho tui để thầy ba vô cái ống nầy, khoan đừng có đi đâu nha cha
nội, mấy bà già để tui lo cho, người cõi trên như thầy sao mà be he quá
vậy?
Biện chà có tiếng dê sòm, nghe vậy khán giả nhìn ông ta cười rộ lên.
Tới đây Cha tôi bỏ hình nhân vô cái ống thiết tròn, cái ống nầy tôi phải
lau chùi mỗi ngày, nó có hai ống, ống lớn che ngoài, ống nhỏ chứa sẵn
thịt heo.
Mỗi lần diễn trò nầy Cha tôi dặn Mẹ tôi đi chợ sớm, mua thịt heo ngon,
để sau buổi diễn, kho thịt với hột vịt cho cả nhà ăn. Tôi đánh trống theo
lời nói của Cha tôi, ông thích tôi đánh trống, vì tôi hiểu ý ông. Thầy ba
đã nằm trong ống thiết, Cha lại làm như lắng tai nghe:
- Ơi.
- Thầy ba nói trong nầy giống như đêm ba mươi, đen thui. Chịu khó
chút nha thầy ba, chết chưa, cái ông nầy chưa gì đi rồi, thầy ba lặn vô
chợ rồi, thầy độn thổ rồi, bà con chờ chút sẽ thấy thầy ba ăn cắp thịt
heo về cho coi.
Ai cũng phải chờ, vì tò mò vốn là cái tánh chung của con người, chờ
thầy ba đem thịt heo về cho nhãn tiền.
Trong lúc chờ, Cha tôi quảng cáo thuốc nhức răng, ông nói không có
cái gì khổ cho bằng bệnh nhức răng, vợ hun cũng đổ quạu, ông nhái
điệu bộ của người nhức răng.
Cha tôi diễn hay tới mức giống hệt, tuy ông không còn cái răng thiệt
nào. Ông mời một người đàn bà bước vô sân, lúc đầu bà ta mắc cỡ,
nhưng sau đó không vô không được vì bị những người khác đẩy vô:
- Hồi nhỏ tới bi giờ bà có nhức răng hông?
Cha tôi hỏi, bà kia trả lời:
- Dạ có, còn có một cái răng nầy thôi mà nó cũng nhức thấu trời?
Người đàn bà nầy chỉ còn một cái răng cửa.
- Bà có chồng chưa, có chồng rồi thì há miệng ra coi. Hai chuyện, có
chồng hay nhức răng hoàn toàn khác nhau, song bà nầy vẫn há miệng.
Ai lại không có một vài lần nhức răng, nó vô cùng khó chịu, nhưng hầu
như không có thứ thuốc nào trị dứt, trong dân gian người ta lại nói,
nhức răng là tại có con sâu ăn răng? Cha tôi nói:
- Tôi để miếng bông gòn trong miệng bà, thuốc nầy bắt được con sâu
ăn răng, nghe chưa.
Có hai chuyện bây giờ phải đứng chờ, đó là chờ ông tướng thầy ba đem
thịt heo về, hai là chờ coi con sâu ăn răng cho biết, bà nầy cũng chịu
khó ngậm miếng bông gòn, với vẻ mặt tức cười. Lúc nầy Cha tôi giới
thiệu những chai thuốc nhức răng, và lấy miếng bông gòn trong miệng
bà già ra để trên một cái đĩa, trên đó bò lúc ngúc những con sâu “ăn
răng”. Cha tôi bán được khá nhiều chai thuốc nhỏ, đó là những chai dầu
Nhị Thiên Đường xài rồi trống không, ông pha chút rượu trắng với
nước rễ cây, dán nhãn có hình Sạc lô với cái cằm sưng vù và cái răng to
tướng, chai thuốc là một món quà cay cay, vô thưởng vô phạt.
Về sau nầy khi tôi lớn lên tôi mới biết khó khi nào trị được bệnh nhức
răng, khán giả mua thuốc nhức răng của Cha tôi, như là mua vé coi ông
vừa giễu vừa diễn xiệc ảo thuật cho vui, bà con cũng tha thứ không cằn
nhằn gì, coi như ăn trầu nhả bã, hút thuốc phà hơi mấy đồng bạc giây
lát cũng tiêu tan.
- Bên nầy mua bên kia mua, lẹ tay thì còn chậm tay cũng còn, chờ
chút bà hai, đợi chút xíu ông tư ơi, bán một tặng một, mua một chai
tính tiền hai chai.
Có lẽ sân khấu tấu hài ăn nên làm ra một thời, mấy lúc hiện nay, là
nhờ Cha tôi chế ra cách nói chuyện vui kiểu chai thuốc bắt con sâu ăn
răng. Ông còn là tác giả khuyết danh của khá nhiều chuyện tức cười
như “con vịt ăn gì mà nó kêu cạp cạp” ông giải nghĩa rằng, con vịt ăn
bắp, chỉ ăn bắp mới là cạp, giễu bình dân vậy mà ai cũng khoái.
Cha tôi biết viết và nói tiếng Pháp, nghe đâu ông sinh ra trong một gia
đình khá giả nhưng ông bỏ đi giang hồ. Ông nói và sáng tác miệng
thuộc loại giỏi. Ông có một cây viết “máy” hiệu Parker thường giắt trên
nắp túi không khi nào thấy ông viết gì, chỉ dùng để ký tên cho vui, ông
có chữ ký kỳ lạ, nó như một cái hộp lớn trong đó nhốt lại mỗi chữ
“Trần”. Chẳng mấy ai quan tâm thuốc của Sạc lô Trần có chữa khỏi
bịnh hay là không, nhiều người còn cười hả hê mua dùm Cha tôi nhiều
miếng thuốc dán, đau đâu dán đó, bịnh gì cũng hết? Vì Cha tôi hát mà
không bán vé vào cửa cho nên thuốc cũng như tờ vé đứng, dùng để
thưởng thức tài nói “pha trò” của ông mà thôi.
Cha tôi trở lại cái đĩa, ông có vẻ lo lắng cho bà già:
- Trời ơi con sâu trong miệng nè, bà không sợ nó cắn đứt lưỡi bà sao
bà? Ban đêm bà ngủ bà có nghe con sâu nhai răng bà kêu cắc cắc
không?
Thật ra đó cũng là ảo thuật, con sâu là những con mẻ từ hột cơm nguội,
vô hại. Rồi như một lời tạ lỗi, cám ơn khán giả, Cha tôi lập tức biểu
diễn những trò khác rất hay, mà không bán một thứ “thuốc” nào nữa.
Ông lô xí sộ ăn cắp thịt trong nhà lồng chợ trở về, khi mở cái ống thiếc
tròn, khán giả ồ lên một tiếng lớn, như thần thoại, ai cũng thấy rõ một
miếng thịt heo ngon. Ông tướng thầy ba đi chợ còn hơn “nình bà” ông
khéo lựa miếng thịt tươi rói, ai biết Mẹ tôi còn là một người nội trợ nấu
ăn ngon, nếu như trời không mưa, món thịt kho hột vịt tuyệt cú mèo sẽ
thay cho món “nước mắm rô ti” mặn rát lưỡi.
Tôi lại nghe tiếng tôi cười, nhưng cuộc đời không phải là một chuỗi
cười thật sự vui, xâu chuỗi có nhiều hạt lớn hạt nhỏ, hạt xấu hạt tốt, hạt
cười hạt khóc, hạt hạnh phúc và vô hạnh, nó là xâu chuỗi vô thường.
Anh tôi ra sân, chú Tài “say” thay chỗ tôi đánh trống.
Chú đánh trống khá giỏi, tiếng trống của chú tôi không bắt chước được,
nó có nhiều nhịp căng, có khi rời rạc, có khi liên hồi, tôi hay lắng nghe
tiếng trống của chú Tài khi chú lia nhẹ chiếc dùi ở rìa trống, không thể
giải thích được. Gần giống như người ta nghe nhạc giao hưởng, lạ
thường thay nhiều khi những nốt nhạc lại gợi nhớ hình ảnh nào đó, có
lúc là một dòng sông, có lúc là một áng mây và có lúc làm nhớ tới một
người, tôi nào cho mình là người lương thiện, nhưng khi nghe tiếng
trống tôi chợt nghĩ về Cha tôi. Tôi thấy ông là hai con người, một là
chính ông, tuyệt đối lương thiện, còn người thứ hai sao mà xa lạ với tôi
tới nỗi tôi ngạc nhiên và hổ thẹn, vì mình có những ý nghĩ đó với bậc
sanh thành. Chẳng hạn như những đồng tiền bán thuốc “nhức răng”
nằm đầy trên tấm vải nhựa buổi sáng hôm nào, chẳng qua tôi là một kẻ
kiêu hãnh, làm dáng, chuyên rước cho mình nỗi khổ tâm, dù cho nó là
những hạt cát vốn đã bẩn bụi trần gian.
Hình như tôi cũng có người thứ hai trong tôi, ai mà biết được, lần hồi
tôi cho là có thật. Hai con người nầy trong tôi không hoà thuận, một
trầm tư sám hối, còn một có cơ phá phách, hỗn loạn, bất kham. Chúng
như một con gà chọi nhốt chung với một con vịt, một kẻ hung hăng
thích xung đột, kẻ khác ngây thơ và hoàn toàn thụ động.
Thông thường, xiệc rong bán thuốc, thời đó biểu diễn làm quà, nó
không có nhiều trò lớn, vậy mà ghe hát của Cha tôi có màn phóng dao.
Khán giả không chỉ thích cười cợt, mà họ con thích cảm giác mạnh.
Khổ nổi Cha tôi lại là người đánh trống cho màn phóng dao, ông là một
nghệ sĩ cầu toàn. Tất nhiên tiếng trống của Cha tôi không thể nào chê,
về sự điêu luyện, ông phối các âm thanh thường rất đơn điệu thành một
chuỗi tiếng động thúc giục, hấp dẫn, lôi cuốn, và hồi hộp. Khi anh tôi
xuất hiện ở giữa sân, anh như một ông Hoàng, với những lưỡi dao,
trong tiếng trống trận mạc nôn nao. Còn tôi phải lủi thủi vác tấm ván
phóng dao từ dưới sông cạnh đó lên bờ, chen qua nhiều người như mọi
lần. Em gái nhỏ của tôi, và cả anh tôi, bước ra cúi chào khán giả. Em
tôi là người đứng trước tấm ván.
Anh tôi là một người mà ai gặp, nếu đó lại là những cô con gái, thì khó
thể nào quên, anh thật đẹp, nhứt là khi anh ra sân khấu, mặc cho đó là
sân khấu đất tàn tạ.
Như một Hoàng tử bị đày đoạ xuống cõi trần gian, vị Hoàng tử nầy vừa
tôi nghiệp vừa kiêu hãnh biết bao. Anh tôi tới đây từ một lâu đài trong
chuyện cổ tích, mái tóc anh đen nhánh, nuôi dài chải chuốt, da anh
trắng xanh, nụ cười mê hồn.
Còn tôi là ai? Từ trước khi tôi là một phôi thai chung dòng sữa Mẹ với
anh, chúng tôi không biết nhau trước, nhưng bây giờ vị Hoàng tử là anh
ruột của tôi, tội nghiệp là anh cũng đói khổ cùng cực như mọi người
trong “Hoàng gia” chiếc ghe hát của chúng tôi có 6 người, Cha tôi, Mẹ
tôi, anh em tôi và chú Tài “say”. Cuộc sống trôi giạt, giả thật qua nhiều
năm tháng, điều tôi khổ nhứt lá trái tim quá đỗi nhạy cảm của tôi, nó
thổn thức từ khi tôi chưa đủ hình hài, trôi theo tôi sau chiếc ghe hát,
trên những dòng sông là tấm ván phóng dao, đầy thương tích như nỗi
đau của kiếp người.
Thời thơ ấu của tôi, của anh em tôi cứ vậy, chầm chậm trôi theo những
dòng sông vui buồn, trong cơ khổ đói khát với hoàn cảnh riêng biệt
không giống ai. Vì vậy mà tôi trở nên rất ít nói, có khi nhiều ngày liền
tôi không nói một tiếng, làm cho Cha tôi, nhứt là Mẹ tôi cứ tưởng rằng
tôi bị ai đó cắt mất lưỡi. Tôi chỉ thầm nói trong cái đầu nhỏ của tôi hai
chữ “tại sao” rồi cúi đầu nhẫn nhục, chịu đựng, bởi không ít người nhìn
chúng tôi với đôi mắt chê trách, khinh miệt bầy xướng ca vô loài, mặc
dù chúng tôi có ca hát chi đâu? Tôi sống phiêu linh một kiếp lục bình
trôi nổi, thời tuổi nhỏ của tôi đi và sống qua nhiều nơi, buộc lòng tôi
phải thấy nhiều, suy nghĩ nhiều hơn những thằng nhỏ khác. Đôi khi tôi
ngồi cười một mình, Mẹ tôi cứ tưởng tôi bị tâm thần hay ma ám, Mẹ
dâu có biết con rơi nước mắt vì những điều khổ tâm quá sức con, người
Mẹ bình thường nầy nào đâu đã biết mình sinh ra một con người dị tật,
nó có một trái tim quá lớn. Mưa vẫn rơi vào những tháng mười với
tiếng trống, và trò phóng dao, bên bãi sông cuối chợ sáng chiều, nỗi
đau luôn trở lại bất cứ lúc nào trong cuộc đời sau nầy của tôi, một vở bi
hài kịch trúc trắc.
***
Tấm ván dùng để phóng những lưỡi dao, gồm có ba mảnh ván nhỏ
ghép lại, phía sau nó có hai thanh gỗ chặn, một dưới thấp gần bàn chân
tôi, còn hai dùng cho tôi giữ nó đứng thẳng. Tấm ván cao khỏi đầu tôi
khi tôi đứng sau nó, còn cao hơn em gái tôi đứng ở phía trước nhiều.
Cha tôi nhờ người thợ mộc chuyên đóng hòm đóng tấm ván nầy, đáng
lý bằng gỗ thông mềm, nhưng rồi trại hòm không có loại ván nầy, nó
được đóng bằng gồ dầu cứng, khổ nỗi tấm ván quá cứng, không “ăn”
dao, cho nên ngoài việc đứng làm chú hề con mỗi đêm, phụ diễn với
Cha tôi, ban ngày tôi còn phải tưới nước cho tấm ván mềm đi.
Cha quyết định bán chiếc ghe, lên bờ lập một đoàn xiệc nhỏ, trong đó
có lý do đường sông lúc sau nầy có cướp mà cướp thì không từ ai
Chúng tôi được đi xe hơi, đi tới đâu chú Tài “say” tìm mướn xe tới đó,
nay chú được lên chức quản lý, đi xin phép hát. Cha tôi không còn hát
sân đất, bán những chai, thuốc nhức tăng nữa, mà là một ông bầu, khá
nhiều nghệ sĩ hát rong kéo về hợp tác. Cố chú Phi Long trước đây là
nghệ sĩ phóng dao, nay chuyên đi dây thép trên cao, đặc biệt là chú đi
guốc, đi xe đạp một bánh trên dây, có bác hai Đại Bàng chuyên xiệc
trên chiếc xe đạp kiểu, bác hai cũng diễn ảo thuật, chú Lê Bân là người
miền Bắc chuyên về trò đạp chiếc thang cao, với đứa con gái, nhỏ leo
lên uốn dẻo. Một ban nhạc đệm nữa chớ, gồm tay đàn măng- đô-lin,
ông tên là Bà Kim Cương, người đàn ông mù hết sức sạch sẽ, vui tỉnh,
người vợ suốt ngày cằn nhằn, với đứa con gái không làm gì ráo, chỉ
biết khóc, chú Bảy Hơn một người trước kia thổi kèn đám ma, và một
tay trống, chú tên là Thành cái thùng trống là gia tài lớn của chú, chú
Bê ốm nhách, hoạ sĩ vẽ quảng cáo, với bà vợ ho lao.
Ngoài ra còn có gia đình một người Hoa Miến Điện, gồm người chồng
chuyên về trò chồng người, bốn người con, hai trai hai gái biểu diễn trò
khéo, một gia đình người Hoa Chợ Lớn khác, người cha làm hề xiệc, cô
con gái khá đẹp tung hứng. Cha tôi làm Sạc lô, một tiết mục khác, ông
giả trang thành người Ấn Độ nuốt lửa và trò tàng hình, chú Chín Chim
làm hề ngoài cửa, anh tôi là nghệ sĩ phóng dao. Đoàn xiệc duy nhứt lúc
đó trong miền Nam là đoàn Nghệ Tinh của ông bầu Trần, chúng tôi hát
ở những rạp khá lớn, nhiều nơi.
Mẹ tôi không biết chữ, nhưng nhờ đi đây đi đó quá nhiều, cho nên nói
chuyện rất hay, bà hay đi coi bói, sau đó thuộc tuồng, lại bói cho người
khác. Những buổi trưa trong rạp hát vắng người, bà coi bói cho người
trong đoàn. Còn tôi lúc nào cũng kê tấm ván phóng dao trên một hàng
ghế nằm nhìn lên trần rạp: Mẹ tôi là người tằn tiện, chính bà dành dụm
được một số tiền trong thời gian Cha tôi làm nghề bán thuốc để cho
Cha lập gánh hát.
Mẹ tôi có khách ngoài tới coi bói lúc nào tôi không biết, nhưng khi tới
một rạp hát nào, bên cạnh phòng vé bà cũng cho dán một bảng hiệu
riêng, do chú Bê vẽ, trên đó có một bàn tay, với những lá bài tây, lâu
dần khán giả tới coi bói khá đông. Thu nhập của Mẹ tôi có vẻ tức cười,
nhưng Cha tôi không có ý kiến, riêng ông thỉnh thoảng cũng có người
bệnh đau răng tới mua chai thuốc, hay nhờ ông nhổ dùm cái răng đau,
ông còn có nghề cắt mây hay lột cườm trong mắt, một Đông Y sĩ bẩm
sinh, khá mát tay.
Anh tôi ít khi có mặt trong rạp, chỉ có khi tới màn biểu diễn của anh,
vào ban đêm, tới đâu, lúc nào anh cũng hay ngồi ngoài quán nước với
những người bạn, anh luôn luôn có bạn, họ ngồi rất lâu, có khi là cả
ngày trong quán nước hay quán cà phê giống như anh, những người
bạn lạ mặt nầy trầm tính, nhưng khó biết họ từ đâu tới, làm nghề gì, nói
chuyện gì. Cha tôi thì luôn đi đâu đó với chú Tài “say”, còn em gái tôi
lúc nào cũng nằm trong một góc tối với xâu chuỗi và quyển kinh.
Giữa trưa, tôi nằm trên tấm ván phóng dao nghe Mẹ tôi bói bài cho một
bà khách, một điều tôi phải công nhận là Mẹ tôi có năng khiếu coi bói
bẩm sinh, bà lại ưa quan sát, có thói quen bắt chước giỏi, lại nhiều
tưởng tượng, bà còn thuộc lòng nhiều chuyện đời xưa, số vốn nầy vô
tình khiến cho Mẹ tôi dẫn dắt câu chuyện bói toán trơn tru:
- Theo như lá bài nầy, con đầm chuồng nầy cho tui biết thì hồi nhỏ bà
bị bịnh nặng lắm.
Mẹ tôi trang bài, lật ra một con nói với bà khách, tôi thầm nghĩ, có
người nào lúc còn nhỏ lại không bịnh nầy bịnh kia, chí ít cũng nóng ho.
Bà khách giật mình:
- Dạ có tui đau ban khỉ, sém chết.
- Thấy chưa, tui nói không sai, bà còn té nữa phải không, té xuống
nước, cái mạng bà lớn lắm đó nha
- Dạ có tui té xuống giếng, may là má tui hay kịp vớt lên, không thì tui
chết rồi, rồi cái, tui bịnh ban cua tóc rụng hết ráo, còn nữa, hồi hai tuổi
tui nghe má tui nói lại, tui té xuống sông, chìm lỉm, vớt lên chết luôn
mấy ngày, không biết sao bỏ vô hòm rồi tự nhiên tui sống dậy, rồi cái
tự nhiên bây giờ tánh tui hơi tưng tưng.
- Ông bà khuất mày khuất mặt quở, biết sao hông, tại song thân của bà
đặt tên bà quá đẹp, kỵ huý. Nhờ kiếp trước bà ăn ở nhơn đức hay giúp
người cho nên quới nhơn độ mạng, cứu bà đó nghen.
- Ờ tui nhớ rồi, má tui nói hồi bốn năm tuổi tui đẹp mà dễ thương lắm,
rồi cái ba má tui đặt tên tui là Mộng Hoa, hèn chi ông bà quở, bây giờ
làm sao đây ba. Tui cũng hiền như cục bột, đứa con nít trong xóm, tui
cũng không dám mích lòng, mà sao kỳ, tui khổ triền miên.
- Tôi nói cái nầy bà đừng sợ, có người ghen ghét bà muốn hại bà.
- Trời ơi ai mà ác nhơn sát đức vậy không biết?
Tôi ngẫm nghĩ đây không phải là coi bói thông thương mà hai người
đàn bà tâm sự với nhau, ai cũng đã qua thời con gái, giở nuối tiếc kiếm
cớ nhắc lại, đôi khi chỉ để khen mình. Mẹ tôi xào bộ bài tây:
- Con đầm rô nầy, người nữ nầy hại bà chớ ai vô đây, còn thằng tây già
nầy là chồng hiện tại của bà, bà có tới bốn đời chồng, mà không lần nào
trọn chuyện tình ngãi. Chồng bà lớn tuổi hơn bà phải không, bà phải có
người chồng nhỏ tuổi hơn, bà mới có hạnh phúc.
Tôi lại nghĩ, tất nhiên là vậy rồi, bao giờ thì trong các cuộc hôn nhân
người chồng luôn lớn tuổi hơn người vợ. Bà khách có vẻ hối tiếc, số
phận người phụ nữ thật truân chuyên.
Vẻ hối tiếc hiện rõ trên khuôn mặt người đàn bà nầy, nó đã có quá
nhiều nếp nhăn theo thời gian. Mẹ tôi chỉ một con bài:
- Hồi còn trẻ bà hết lòng thương người trai nầy, tức là ở kế bên nhà bà,
nhưng hai bên gia đình không đồng ý, trắc trở cho tới bây giờ, đúng
chưa.
Bà khách bật khóc, bây giờ chỉ còn một mình bà nói, còn Mẹ tôi lắng
nghe, câu chuyện thật dài, cho tới trời xẩm tối. Bà khách trả tiền công
coi bói cho Mẹ tôi, Mẹ tôi tiễn chân người đàn bà đáng thương nầy ra
cửa rạp.
Tôi còn nghe vẳng lại lời khuyên chí tình của Mẹ tôi:
- Tánh bà khổ vì thương người, không phải ai cũng một bụng như mình
đâu, nhứt là đàn ông, cái bụng bà tốt, nhưng mà bà còn phải trả nợ trần
ai nhiều. Kiếp trước bà là đàn ông, bỏ bê, hất hủi nhiều người, phụ tình
nhiều người, phụ tình thì tình phụ, cái số của bà là vậy.
Đoạn nầy tôi nghe như trong chuyện cổ tích nào đó, mà Mẹ tôi hay kể
cho mọi người nghe. Không sao, Mẹ tôi và bà khách không có gì giận
nhau trong chuyện coi bói, chỉ có một chuyện, có lẽ người khách còn
phải lo, là con đầm.
Người nữ rắp tâm hại bà, nhưng theo tôi sự lo lắng đó vô ích, bởi vì kẻ
thủ ác đó vẫn nằm trong bộ bài, nghĩ vậy vì tôi chưa biết câu chuyện về
sau nầy của Cha tôi với những quân bài ác liệt.
Mẹ tôi coi bói như nói chuyện đời, việc nầy giúp bà có chút tiền mọn,
lai rai bỏ vô con heo đất. Con heo đất nầy Mẹ tôi mua đã lâu, để khỏi
mua con heo đất khác, bà có một cách riêng, khi con heo đất “ăn no” bà
đập một lỗ nhỏ dưới bụng nó moi lấy tiền ra, bà tiện tặn dán cái bụng
nó lại bằng giấy báo, khi nào heo lại “ăn no” bà chỉ có việc xé mảnh
giấy báo đó, không đập con heo.
Tôi thấy con heo đất nầy từ hồi tôi còn nhỏ xíu cho tới khi tôi trở thành
một ông già, nó vẫn ở cạnh Mẹ tôi nhưng bà vẫn nghèo, tôi nghẹn ngào
biết rằng bao năm Mẹ vẫn dành dụm bằng cách đó trong khi Cha tôi
phóng túng vô lo, ông không có chút khái niệm nào về ngày mai. Mẹ
tôi coi con heo đất nầy là quới nhơn hộ mạng cho đủ thứ việc trên đời,
đau ốm, hoạn nạn mưa gió, bà còn một cái bùa hộ mệnh khác là con bồi
rô trong bộ bài tây, với thật nhiều ảo ảnh.
Một đêm vắng lặng sau khi vãn hát, tôi nằm thao thức trên tấm ván
phóng dao. Suất diễn tối rồi em gái tôi suýt chút gặp nạn. Không phải
chỉ lần nầy mà nhiều lần khác, khi tôi đứng vịn ngoài sau tấm ván, tôi
nhìn qua kẽ hở, tôi nghiệm rằng sự nguy hiểm không lường trước được,
không biết nó sẽ xảy ra lúc này. Trò phóng dao, theo tôi nó không xuất
phát từ xứ sở hiền hoà nầy, mà nó du nhập vào đây từ một nơi người ta
ăn thịt người, nơi mà người ta quen việc phóng mũi dao tiêu diệt con
mồi.
Biết bao nhiêu đêm tôi cứ suy nghĩ về cái sự vô lý của trò diễn đầy bạo
lực nầy, một người đứng im cam chịu hàng chục lưỡi dao bén ném về
phía mình, buồn nhứt người đó lại là em gái tội nghiệp của tôi, nó như
bị đóng đinh lúc còn sống. Sao chỉ mỗi một mình tôi thấy điều đó, mà
nào phải tôi đây là bậc cứu nhân độ thế cho cam, tôi cũng là một con
người nhỏ bé tội nghiệp, một con kiến bò quanh miệng chén. Kẻ thủ ác
vô hình nào đó tinh nghịch tạo nên hoàn cảnh nầy chăng, tôi nghiệm ra
trong đó có đồng tiền là thống soái, còn thói vô tâm nữa, nó là câu
chuyện của muôn đời.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét