Thứ Bảy, 19 tháng 4, 2014

phát triển nghiệp vụ bao thanh toán xuất khẩu tại ngân hàng thương mại cổ phần xuất nhập khẩu việt nam - chi nhánh eximbank hà nội


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "phát triển nghiệp vụ bao thanh toán xuất khẩu tại ngân hàng thương mại cổ phần xuất nhập khẩu việt nam - chi nhánh eximbank hà nội": http://123doc.vn/document/1053337-phat-trien-nghiep-vu-bao-thanh-toan-xuat-khau-tai-ngan-hang-thuong-mai-co-phan-xuat-nhap-khau-viet-nam-chi-nhanh-eximbank-ha-noi.htm


Chuyên đề thực tập Khoa Ngân hàng - Tài chính
căn cứ vào tính hiệu quả của thơng vụ và nguồn thu hồi nợ vay để ra quyết
định tài trợ. Đây là loại hình tài trợ trớc khi giao hàng chủ yếu, hay áp dụng.
Để đợc tài trợ thì nhà xuất khẩu phải đạt đợc một số điều kiện nhất định nh:
Nhà xuất khẩu cần phải có một đơn đặt hàng, cam kết mua hàng chắc
chắn từ phía nhà nhập khẩu nớc ngoài, trong khi hàng hoá cha đợc thu
mua cũng nh sản xuất, chế biến.
Đối với những khách hàng mới hay những thơng vụ kinh doanh mặt
hàng mới, để đợc ngân hàng tài trợ khách hàng thờng phải xuất trình
một L/C đã đợc mở bởi một ngân hàng có uy tín, hoặc đợc xác nhận
bởi một ngân hàng uy tín khác.
Đối với loại hình này, mức tài trợ thông thờng tính theo tỷ lệ phần trăm
giá trị đơn đặt hàng, thờng từ 70%-80%. Nh vậy nhà xuất khẩu phải tham gia
với một tỷ lệ vốn nhất định, nên họ cũng tăng trách nhiệm hơn trong việc
thực hiện thơng vụ của mình, đảm bảo hiệu quả, tạo khả năng hoàn trả vốn
vay cho ngân hàng. Để khuyến khích xuất khẩu, Chính phủ nhiều nớc quy
định tỷ lệ tối thiểu trong tổng d nợ của ngân hàng dành cho tài trợ xuất khẩu,
và thờng áp dụng đối với những doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Tài trợ theo hình thức này thờng là tài trợ ngắn hạn, thời gian từ khi giải
ngân để trả tiền hàng hóa dịch vụ cho nhà cung ứng cho đến khi thu đợc tiền
từ nhà nhập khẩu. Nhiều ngân hàng tài trợ xuất khẩu yêu cầu nhà nhập khẩu
hay ngân hàng mở L/C thanh toán trực tiếp cho ngân hàng mình bằng nhà
xuất khẩu sẽ ký phát hối phiếu cho ngân hàng tài trợ hởng. Sau khi trừ nợ
gốc, lãi tiền vay, các chi phí dịch vụ phát sinh, số tiền còn lại sẽ đợc ghi có
vào tài khoản của nhà xuất khẩu.
- Tín dụng hạn mức trớc khi giao hàng: Tín dụng hạn mức sẽ không bị
hạn chế vào một thơng vụ cụ thể nào mà nhằm tài trợ cho một chuỗi thơng
vụ liên tiếp trong một khoảng thời gian nhất định, thời hạn tối đa thờng là 2
năm. Hạn mức tín dụng là mức d nợ tối đa đợc duy trì trong một thời hạn
nhất định mà tổ chức tín dụng mà nhà xuất khẩu thoả thuận trong hợp đồng
tài trợ. Tuỳ theo thoả thuận, hạn mức tín dụng có thể đợc rút dần trong từng
kì trả nợ, hoặc nhà xuất khẩu có thể vừa rút vốn vay vừa trả tiền nợ vay, hoặc
ngân hàng quy định khoản rút vốn lần đầu phải đợc hoàn trả đầy đủ trớc khi
Phạm Thị Hồng Hạnh Ngân hàng 44C
5
Chuyên đề thực tập Khoa Ngân hàng - Tài chính
rút vốn lần tiếp theo, cứ nh vậy cho hết hạn hợp đồng. Trên thực tế hình thức
này ít đợc áp dụng, chỉ thực hiện với những khách hàng có uy tín, chấp hành
nghiêm chỉnh lịch trình trả nợ ngân hàng. Loại hình này rất phù hợp với
những hoạt động xuất khẩu có thị trờng ổn định, thờng xuyên, không mang
tính thời vụ.
Thứ hai là hình thức tài trợ sau khi giao hàng: Hình thức tài trợ này sử
dụng khi nhà xuất khẩu có đủ khả năng tài chính để thực hiện sản xuất, thu
mua trớc khi giao hàng nhng thiếu nguồn bù đắp cho các khoản phải thu,
nhất vì trong thơng mại quốc tế, sau khi giao hàng phải mất một thời gian
nhất định thì việc thanh toán mới đợc diễn ra. Hình thức tài trợ này thờng có
sự tham gia của các công cụ nh bộ chứng từ hàng xuất, hối phiếu đã chấp
nhận còn thời hạn. Hình thức này gồm các loại hình chủ yếu sau:
- Cho vay trong khuôn khổ Th tín dụng: Ngân hàng có thể chiết khấu
hoặc ứng trớc đối với bộ chứng từ hàng xuất. Để đáp ứng nhu cầu vốn, sau
khi giao hàng, nhà xuất khẩu có thể thơng lợng với ngân hàng để thực hiện
chiết khấu hoặc ứng trớc tiền. Để đợc chiết khấu và ứng trớc, bộ chứng từ
phải phù hợp với L/C, hoặc không phù hợp nhng đợc ngân hàng nớc ngoài
chấp nhận thanh toán. Tuỳ vào chất lợng bộ chứng từ, mặt hàng xuất khẩu,
thị trờng, đối tác nhập khẩu, uy tín của ngân hàng mở L/C ngân hàng sẽ
quyết định chiết khấu có truy đòi hay miễn truy đòi. Chiết khấu bộ chứng từ
miễn truy đòi là việc dựa trên cơ sở bộ chứng từ hàng xuất, sau khi trừ chi
phí phát sinh liên quan, ngân hàng sẽ thanh toán số tiền còn lại cho nhà xuất
khẩu, bất kể phía nhà nhập khẩu có thanh toán hay không. Trờng hợp này chỉ
áp dụng với những bộ chứng từ có chất lợng tốt, mức độ rủi ro thấp. Chiết
khấu bộ chứng từ có truy đòi là việc ngân hàng dựa trên bộ chứng từ hàng
xuất, sau khi trừ chi phí liên quan, sẽ thanh toán số tiền còn lại cho nhà xuất
khẩu với điều kiện sẽ truy đòi nhà xuất khẩu nếu ngân hàng không thu đợc
tiền từ ngân hàng mở L/C. Trờng hợp này ít rủi ro hơn đối với ngân hàng th-
ơng mại tham gia chiết khấu.
- Cho vay trong khuôn khổ phơng thức nhờ thu kèm chứng từ. Trong ph-
ơng thức nhờ thu kèm chứng từ, nhà xuất khẩu uỷ thác các chứng từ về hàng
hoá, vận chuyển, bảo hiểm và các chứng từ khác cho ngân hàng của mình,
chuyển tới ngân hàng nhà nhập khẩu hoặc tới một ngân hàng giao dịch với
Phạm Thị Hồng Hạnh Ngân hàng 44C
6
Chuyên đề thực tập Khoa Ngân hàng - Tài chính
chỉ thị giao các chứng từ này cho nhà nhập khẩu khi đã thanh toán hoặc chấp
nhận một hối phiếu đòi nợ kèm theo. Tuy nhiên từ lúc gửi chứng từ cho đến
khi xuất trình với ngời thanh toán có thể mất một khoảng thời gian nhất định,
đặc biệt khi thoả thuận ngày thanh toán muộn hơn. Khi đó nếu có nhu cầu
vốn, doanh nghiệp có thể vay ngân hàng, chiết khấu hoặc ứng trớc bộ chứng
từ thanh toán. Hình thức này tơng tự nh đối với L/C, tuy nhiên nó không đợc
đảm bảo về mặt tín nhiệm, do đó chỉ nên áp dụng chiết khấu có truy đòi.
- Chiết khấu hối phiếu: Với hình thức này, ngân hàng sẽ cấp tín dụng cho
khách hàng dới hình thức mua lại các hối phiếu trớc khi đến hạn thanh toán.
Điều này có nghĩa là ngân hàng mua lại các khoản nợ phải trả hoặc các
khoản nợ phải đòi. Chiết khấu hối phiếu tạo điều kiện cho nhà xuất khẩu
nhận đợc tiền sớm hơn, nhằm đáp ứng nhu cầu về vốn đối với khoản tín dụng
cung ứng hàng mà anh ta đã cấp cho nhà nhập khẩu. Đây là hình thức tài trợ
xuất khẩu rất phổ biến trong hoạt động ngoại thơng.
- Tín dụng Bao thanh toán: Bao thanh toán là một hình thức tài trợ xuất
khẩu trong đó ngân hàng sẽ mua lại các chứng từ thanh toán, các khoản nợ
cha đến hạn thanh toán để trở thành chủ nợ trực tiếp đứng ra đòi nợ ngời mua
hàng, đồng thời cung cấp các dịch vụ quản lý sổ cái cho bên xuất khẩu.
Trong nghiệp vụ này, đối tợng chính là các khoản phải thu nên tổ chức bao
thanh toán quan tâm đến nhà nhập khẩu, tổ chức bao thanh toán nhập khẩu là
chủ yếu. Chính vì vậy mà việc đánh giá khả năng tài chính của các đối tợng
trên là quan trọng nhằm đánh giá mức độ rủi ro cũng nh tỷ lệ ứng trớc và
chiết khấu trong hoạt động bao thanh toán. Thực hiện nghiệp vụ này, tổ chức
bao thanh toán thực hiện đồng thời chức năng thanh toán, chức năng tài
chính và chức năng phòng chống rủi ro. Có hai loại bao thanh toán là bao
thanh toán truy đòi và bao thanh toán miễn truy đòi tuỳ theo thoả thuận giữa
tổ chức bao thanh toán và nhà xuất khẩu.
1.2. Nghiệp vụ bao thanh toán xuất khẩu
1.2.1. Nghiệp vụ bao thanh toán
1.2.1.1.Khái niệm
Có rất nhiều những cách hiểu khác nhau về Bao thanh toán (Factoring).
Theo từ điển kinh tế (Dictionary of Economics Christopher Pass & Bryar
Phạm Thị Hồng Hạnh Ngân hàng 44C
7
Chuyên đề thực tập Khoa Ngân hàng - Tài chính
Lones) Factoring là một sự dàn xếp tài chính, qua đó một công ty tài chính
chuyên nghiệp mua lại các khoản nợ của một công ty với số tiền ít hơn giá trị
của khoản nợ đó. Lợi nhuận phát sinh từ sự chênh lệch giữa tiền thu đợc của
số nợ đã mua và giá thực tế của món nợ đó. Lợi ích của công ty bán nợ là
nhận đợc tiền ngay thay vì phải chờ đến lúc con nợ trả nợ, hơn nữa lại tránh
đợc những phiền toái và các chi phí trong việc theo đuổi các con nợ chậm
trả.
Còn theo từ điển thuật ngữ ngân hàng Hans Klaus thì Factoring là
một loại hình tài trợ dới dạng tín dụng chuyển nhợng nợ. Một công ty
chuyển toàn bộ hay một phần khoản nợ cho một công ty tài chính chuyên
nghiệp. Công ty này đảm nhận việc thu các khoản nợ và theo dõi các khoản
phải thu để hởng thủ tục phí và có lúc ứng trớc các khoản nợ. Thông thờng
công ty mua nợ phải chịu mọi rủi ro mất khả năng thanh toán của món nợ.
Một khái niệm khác về Bao thanh toán cho rằng: Factoring là việc mua
lại các khoản nợ. Các công ty mua nợ mua các khoản nợ của khách hàng trên
cơ sở không truy đòi và tiến hành một số các dịch vụ khác ngoài việc ứng tr-
ớc các khoản nợ. Công ty mua nợ đánh giá mức tín dụng trong hiện tại và t-
ơng lai của ngời bán và xác lập các hạn mức tín dụng ứng trớc. Các khách
hàng đợc yêu cầu gửi trực tiếp cho công ty mua nợ bản sao hoá đơn. Khoản
ứng trớc thờng từ 80 90% trị giá hoá đơn. Khoản dự trữ 10%-20% đợc
công ty mua nợ giữ lại để phòng ngừa hàng trả lại, hàng giao thiếu, hoặc do
các yêu cầu khác của ngời mua. Thờng thờng vào cuối tháng, công ty mua nợ
tính toán mức phí thu đợc trên số d các khoản nợ cha thu và cấp thêm vốn
cho khách hàng.
Theo Quyết định số 1096/2004/QĐ-NHNN ngày 06/09/2004 ban hành
quy chế hoạt động Bao thanh toán của các Tổ chức tín dụng thì Bao thanh
toán là một hình thức cấp tín dụng của tổ chức tín dụng cho bên bán hàng
thông qua việc mua lại các khoản phải thu phát sinh từ việc mua, bán hàng
hoá đã đợc bên bán hàng và bên mua hàng thoả thuận trong hợp đồng mua,
bán hàng.
Qua các khái niệm trên ta thấy Bao thanh toán là một hình thức tài trợ
trọn gói kết hợp việc tài trợ vốn lu động, tránh rủi ro tín dụng, quản lý những
khoản phải thu và đảm nhiệm dịch vụ nhờ thu. Nó đợc thực hiện dới một
Phạm Thị Hồng Hạnh Ngân hàng 44C
8
Chuyên đề thực tập Khoa Ngân hàng - Tài chính
thoả thuận giữa nhà Bao thanh toán và ngời bán hàng. Với thoả thụân này tổ
chức thực hiện Bao thanh toán mua các khoản phải thu của ngời bán hàng,
thông thờng dới hình thức miễn truy đòi và chịu trách nhiệm về khả năng
thanh toán của ngời nợ. Nếu bên nợ phá sản hoặc mất khả năng thanh toán vì
những lý do khác nhau, tổ chức Bao thanh toán sẽ vẫn thực hiện thanh toán
cho ngời bán hàng.
1.2.1.2.Phân loại
Có nhiều cách phân loại bao thanh toán theo những tiêu chí khác nhau.
- Với ý nghĩa là Factoring nhằm bảo hiểm rủi ro thanh toán, chúng ta có
hai loại Bao thanh toán tuyệt đối (Bao thanh toán không truy đòi) và Bao
thanh toán tơng đối ( Bao thanh toán truy đòi).
Bao thanh toán tơng đối (Bao thanh toán truy đòi recourse
Factoring): Ngân hàng sẽ thanh toán tiền cho ngời bán hàng, nhng với thoả
thuận ngời bán vẫn chịu trách nhiệm rủi ro nếu ngời mua không trả tiền. Nh
vậy nhà Bao thanh toán không mua đứt các khoản phải thu mà chỉ dựa vào
đó để tài trợ xuất khẩu với điều kiện là có truy đòi, nghĩa là ngời bán phải
hoàn trả nợ vay cho nhà Bao thanh toán nếu không thu đợc tiền bán hàng.
Hợp đồng Bao thanh toán sẽ xác định sau bao nhiêu ngày kể từ ngày đến hạn
thanh toán ngời bán hàng phải hoàn trả số tiền ứng trớc cho tổ chức Bao
thanh toán. Theo đó, chi phí đối với Bao thanh toán tơng đối sẽ thấp hơn chi
phí Bao thanh toán tuyệt đối và có thể chỉ đòi hỏi ít yêu cầu hơn từ từ phía
ngời bán và khách hàng của họ. Đó là bởi vì ngời bán là ngời gánh chịu rủi
ro từ nợ xấu. Chúng ta hãy xem xét ví dụ sau.
- Hợp đồng Bao thanh toán thực hiện thanh toán trong vòng 3 tháng với
80% giá trị hoá đơn sẽ đợc ứng trớc.
- Ngày 30 4, hoá đơn phát sinh với giá trị $10.000, và tổ chức Bao
thanh toán sẽ ứng trớc nhà xuất khẩu 80% trị giá, tơng đơng $8000.
- Nhà xuất khẩu mong muốn nhà nhập khẩu sẽ thanh toán sau thời hạn 3
tháng bởi vì anh ta phải chịu trách nhiệm về những khoản nợ. Tổ chức bao
thanh toán với t cách là ngời quản lý các khoản nợ, quản lý sổ cái bán hàng
sẽ theo đuổi quá trình thanh toán cho đến ngày đáo hạn thanh toán.
Phạm Thị Hồng Hạnh Ngân hàng 44C
9
Chuyên đề thực tập Khoa Ngân hàng - Tài chính
- Vào ngày 31 tháng 7, bất kể nhà xuất khẩu có nhận đợc thanh toán từ
đối tác của họ hay không, thì $8000 phải đợc hoàn trả cho tổ chức Bao thanh
toán, đồng thời nhà xuất khẩu cũng vẫn phải thanh toán phí Bao thanh toán
và lãi suất.
Bao thanh toán tuyệt đối (Bao thanh toán miễn truy đòi non recourse
factoring)
Đối với Bao thanh toán tuyệt đối, tổ chức bao thanh toán sẽ phải gánh
chịu những rủi ro về nợ xấu. Nếu ngời mua không thanh toán, tổ chức bao
thanh toán không có quyền đòi lại tiền từ ngời bán. Do ngời bán đợc bảo
hiểm rủi ro 100%, nên bao thanh toán tuyệt đối có chi phí cao hơn bao thanh
toán tơng đối. Ngời bán sẽ không phải trả lại khoản tiền ứng trớc từ nhà bao
thanh toán nhng phải trả lãi suất cho khoảng thời gian thoả thuận bao thanh
toán. Tổ chức bao thanh toán có toàn quyền để yêu cầu ngời mua hàng thanh
toán.
- Căn cứ vào hình thức thực hiện có bao thanh toán toàn bộ và bao thanh
toán một phần.
Bao thanh toán toàn bộ: Tổ chức bao thanh toán mua lại những hoá đơn
của khách hàng phát sinh trong hoạt động kinh doanh thơng mại, đồng thời
thực hiện việc quản lý sổ cái bán hàng, thu nợ từ ngời mua Tóm lại đây là
một dịch vụ trọn gói mà tổ chức bao thanh toán cung cấp cho ngời bán. Đây
là hình thức phổ biến nhất hiện nay.
Bao thanh toán một phần: Với loại hình này tổ chức bao thanh toán
không thực hiện tất cả các dịch vụ cho ngời bán mà chỉ thực hiện một hoặc
một số dịch vụ nhất định nh: chỉ cung ứng vốn, hoặc có kèm theo thu nợ
- Căn cứ vào phạm vi thực hiện bao thanh toán có bao thanh toán nội địa
và bao thanh toán quốc tế.
Bao thanh toán nội địa: Đơn vị bao thanh toán chỉ thực hiện cung cấp
dịch vụ cho các đối tợng khách hàng là các doanh nghiệp kinh doanh thơng
mại trong nớc mà không tham gia vào hoạt động xuất nhập khẩu.
Bao thanh toán quốc tế: Khi ngời bán và ngời mua ở những nớc khác
nhau, và tổ chức bao thanh toán phục vụ bên xuất khẩu và bên nhập khẩu thì
nghiệp vụ này đợc gọi là Bao thanh toán quốc tế. Bao thanh toán quốc tế
Phạm Thị Hồng Hạnh Ngân hàng 44C
10
Chuyên đề thực tập Khoa Ngân hàng - Tài chính
gồm : Bao thanh toán xuất khẩu (khi tổ chức bao thanh toán phục vụ nhà
xuất khẩu) và bao thanh toán nhập khẩu (khi tổ chức bao thanh toán phục vụ
nhà nhập khẩu).
Trong các hình thức bao thanh toán trên, bao thanh toán xuất khẩu đang
ngày càng phổ biến và là một công cụ hết sức hiệu quả đối với nhà xuất
khẩu. Chúng ta hãy đi sâu tìm hiểu nghiệp vụ này.
1.2.2. Vai trò, chức năng và quy trình nghiệp vụ Bao thanh toán xuất
khẩu
1.2.2.1. Vai trò của bao thanh toán xuất khẩu
Đối với rất nhiều công ty, việc bán hàng trên thị trờng quốc tế là một
thách thức lớn. Sự khác biệt về ngôn ngữ, luật pháp, hệ thống tiền tệ và
phong tục tập quán đã tạo ra những rào cản trong thơng mại quốc tế, nơi mà
dới sự hỗ trợ của công nghệ, kĩ thuật cho phép đặt hàng với bạn hàng quốc tế
chỉ trong vài giây. Một trong những vấn đề lớn nhất mà nhà xuất khẩu phải
đối mặt hiện nay là các nhà nhập khẩu quy mô, u thế thờng chỉ chấp nhận
hình thức trả sau và từ chối yêu cầu mở L/C của nhà xuất khẩu. Điều đó có
nghĩa là việc thanh toán sẽ diễn ra sau rất nhiều tuần, thậm chí là nhiều tháng
kể từ khi hàng đợc giao. Không có gì đáng ngạc nhiên khi rất nhiều doanh
nghiệp nhận thấy rằng việc cấp tín dụng cho ngời mua theo cách này có thể
dẫn đến những vấn đề nghiêm trọng đối với dòng tiền. Thêm vào đó là những
vấn đề có thể phát sinh khi nhà nhập khẩu thanh toán chậm hơn nhiều so với
ngày quy định theo điều khoản đã thoả thuận ban đầu hoặc tồi tệ hơn là
không thanh toán vì những thất bại tài chính của họ. Bao thanh toán xuất
khẩu cung cấp một giải pháp đợc đánh giá là đơn giản cho những nhà xuất
khẩu, đặc biệt với những doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng nh là các doanh
nghiệp chuyên biệt. Với chuyên môn và sự hợp tác của tổ chức Bao thanh
toán tại nớc nhập khẩu, tổ chức Bao thanh toán phục vụ nhà xuất khẩu sẽ
thực hiện thu tiền từ nhà nhập khẩu. Kết quả là, sự khác biệt về văn hoá và
khoảng cách không còn là một vấn đề đối với nhà xuất khẩu. Tổ chức Bao
thanh toán cũng có thể cung cấp cho nhà xuất khẩu sự bảo hiểm rủi ro 100%
khi nhà nhập khẩu mất khả năng thanh toán.
Phạm Thị Hồng Hạnh Ngân hàng 44C
11
Chuyên đề thực tập Khoa Ngân hàng - Tài chính
Những lợi ích của Bao thanh toán xuất khẩu đã đợc chứng minh và trở
thành một công cụ đợc nhiều doanh nghiệp tham gia thơng mại quốc tế quan
tâm. Ngày nay, nó đợc xem nh sự là lựa chọn hoàn hảo trong tài trợ thơng
mại và là một công cụ hữu hiệu thay thế cho th tín dụng.
Triển vọng phát triển của Bao thanh toán quốc tế nói chung và Bao thanh
toán xuất khẩu nói riêng đã đợc nhiều quốc gia nhìn thấy và nắm bắt. Không
chỉ ở những nớc công nghiệp hiện đại phát triển mà Bao thanh toán xuất
khẩu đã đợc áp dụng ở các nớc đang phát triển. Thách thức đặt ra với các tổ
chức Bao thanh toán là phải duy trì và phát triển sự năng động, sáng tạo của
họ để có thể đối phó kịp thời trớc những tình huống thay đổi của thị trờng.
1.2.2.2. Chức năng của Bao thanh toán xuất khẩu
Các chức năng cơ bản của nghiệp vụ Bao thanh toán xuất khẩu bao gồm.
Thứ nhất là chức năng dịch vụ thanh toán. Tổ chức bao thanh toán xuất
khẩu đảm nhận mọi nhiệm vụ bút toán cho nhà xuất khẩu về những khoản
thanh toán chuyển nhợng, đảm nhiệm nghiệp vụ nhờ thu hoặc thông báo cho
nhà nhập khẩu, hoặc giải quyết những vớng mắc trong thanh toán. Do đó với
chức năng này, tổ chức Bao thanh toán xuất khẳu thực hiện tất cả các nghiệp
vụ ngân hàng phục vụ cho nhà xuất khẩu. Hơn thế nữa, tổ chức bao thanh
toán xuất khẩu còn thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát khả năng thanh
toán của nhà nhập khẩu, thống kê kế hoạch sản xuất và doanh thu cho nhà
xuất khẩu, xác định thuế suất và thuế doanh thu, xác định lệ phí hoặc các tài
khoản thanh toán nhanh (lệ phí hoa hồng ). Qua đó, chúng ta có thể coi Bao
thanh toán nh một nhà tài chính, ngân hàng phục vụ đắc lực cho các nhà xuất
khẩu. Với mối quan hệ giao dịch với các tổ chức Bao thanh toán nhập khẩu
đã đảm bảo cho nhà xuất khẩu rong khâu thanh toán và đảm bảo thanh toán
đúng hạn thông qua Tổ chức bao thanh toán nhập khẩu tại nớc nhà nhập
khẩu. Một đặc tính u việt mà tất cả các phơng tiện tín dụng khác không có đ-
ợc. Điều này vô cùng quan trọng đối với những hợp đồng dài hạn và cung
ứng theo định kì. Nó đã giảm nhẹ những gánh nặng cho nhà xuất khẩu nếu
phải thực hiện nghiệp vụ tín dụng chứng từ và từ đó giảm đợc lệ phí thanh
toán của tín dụng chứng từ cho cả nhà xuất khẩu và đối tác của họ. Trong khi
đó hệ số an toàn cao hơn tất cả các phơng thức thanh toán khác, vì thực chất
tổ chức Bao thanh toán là những tổ chức con của những ngân hàng, ngoài
Phạm Thị Hồng Hạnh Ngân hàng 44C
12
Chuyên đề thực tập Khoa Ngân hàng - Tài chính
chức năng thanh toán còn có thêm nhiệm vụ và có quyền kiểm tra, giám sát
khả năng thanh toán của nhà nhập khẩu. Bên cạnh đó, nhà xuất khẩu có thể
tiết kiệm đợc nhân lực lao động cho hoạt động dịch vụ thanh toán.
Thứ hai là chức năng tài chính. Tổ chức bao thanh toán xuất khẩu đảm
nhiệm chức năng tài chính tín dụng cung ứng cho nhà xuất khẩu và cơ sở để
đảm nhiệm việc này là mối quan hệ giao dịch giữa hai tổ chức bao thanh
toán ở nớc xuất khẩu và ở nớc nhập khẩu. Trên thực tế, tổ chức Bao thanh
toán xuất khẩu thực hiện hai nghiệp vụ tái tài chính là nghiệp vụ tài chính
ứng trớc và nghiệp vụ chiết khấu. Bao thanh toán là việc mua bán các khoản
thanh toán, tuy nhiên thoả thuận mua và thanh toán là tại hai thời điểm khác
nhau. Hay nói cách khác đây không phải là nghiệp vụ ca đứt hoặc tiền chao,
cháo múc, mà thực chất đây là việc chuyển giao sở hữu trong lòng tin. Mọi
tất toán nghiệp vụ chỉ đợc thực hiện một khi nhà nhập khẩu thanh toán, hoặc
nhà xuất khẩu phải thoả thuận trớc những điều kiện nghiệp vụ khác của Bao
thanh toán.
Nghiệp vụ ứng trớc tài chính. Cho dù hợp đồng bao thanh toán đợc kí kết
từ trớc, nhng ngày có hiệu lực lại là ngày thanh toán theo định kì thanh toán
của nhà nhập khẩu. Trong thời gian này nhà xuất khẩu cần vốn để tiếp tục
quá trình sản xuất có thể vay tín dụng tổ chức thực hiện Bao thanh toán.
Tổng mức tín dụng này phụ thuộc vào khả năng thanh toán của nhà nhập
khẩu, trung bình từ 70%-90% giá trị của khoản thanh toán. Chúng ta hãy xét
ví dụ sau: Một nhà xuất khẩu kí hợp đồng với nhà nhập khẩu hàng liên tục
trong 5 năm với định kì xuất hàng hàng năm là vào tháng 3 và tháng 9, với
tổng mức là 1,2 triệu USD một năm và định kì thanh toán vào 30-6 và 30-12
hàng năm. Trong trờng hợp anh ta cần vốn từ 1-4 đến 30-6, anh ta có thể vay
tổ chức Bao thanh toán khoản tín dụng này. Khoản này đợc coi là khoản tín
dụng ứng trớc. Tín dụng ứng trớc này đợc thực hiện nh tín dụng luân chuyển
và nhà xuất khẩu trả lãi suất cho khoản tín dụng này nh lãi suất luân chuyển
thông thờng và hạn mức tín dụng là từ 70 90% khoản thanh toán. Nhng vì
đây là hợp đồng mua bán các khoản thanh toán, nếu xét về lý thì sau khi xuất
hàng nhà xuất khẩu có quyền bán khoản này theo giá đã thoả thuận và ca
đứt, nhng khi đó anh ta phải trả giá quá đắt. Để tạo điều kiện cho nhà xuất
khẩu, đồng thời để khuyến khích nhà xuất khẩu sử dụng nghiệp vụ Bao thanh
Phạm Thị Hồng Hạnh Ngân hàng 44C
13
Chuyên đề thực tập Khoa Ngân hàng - Tài chính
toán, các tổ chức bao thanh toán đã đa số lợng thanh toán còn lại từ 10-30%
của khoản thanh toán vào tài khoản tiền gửi của nhà xuất khẩu. Tài khoản
này đợc coi nh tài khoản khống chế và nhà xuất khẩu đợc hởng lãi suất tài
khoản tiền gửi này cho tới khi nhà nhập khẩu thanh toán theo thoả thuận. Khi
nhà nhập khẩu thanh toán và Tổ chức Bao thanh toán xuất khẩu nhận đợc
khoản thanh toán này, thì tổ chức bao thanh toán xuất khẩu sẽ thu hồi khoản
tín dụng ứng trớc cộng với lệ phí bao thanh toán ( bao gồm lệ phí hợp đồng,
lệ phí dịch vụ, lệ phí rủi ro) và lãi tín dụng ứng trớc nếu có. Số còn lại cộng
với lãi suất tiền gửi tài khoản khống chế sẽ đợc trả lại cho nhà xuất khẩu.
Qua đó ta thấy, Bao thanh toán đã thể hiện u thế của nó hơn các khoản tín
dụng khác. Nó tạo điều kiện thuận lợi cho nhà xuất khẩu trong việc tái tài
chính. Phần lãi suất tài khoản khống chế đã giảm bớt lãi suất vốn vay. Một
khoản tiền gửi thực chất là cha có nguồn. Tài khoản khống chế là cơ sở bảo
đảm an toàn cho ngân hàng ( tổ chức bao thanh toán) một khi sự cung ứng
không đảm bảo những điều kiện của hợp đồng thơng mại.
Nghiệp vụ chiết khấu:
Đây là hình thức thứ hai của hoạt động tái tài chính xuất khẩu theo phơng
thức bao thanh toán. Với hình thức này, nhà xuất khẩu có thể bán tất cả các
chứng từ thanh toán và vận chuyển cho Tổ chức Bao thanh toán xuất khẩu và
nhận tiền ngay tức khắc. Nhng tỷ lệ chiết khấu là khá cao ( khoảng từ 10%-
30%) và phụ thuộc vào khả năng thanh toán của nhà nhập khẩu. Hay nói
cách khác, tỷ lệ này bao hàm cả lệ phí rủi ro và lãi tín dụng kể từ ngày mua
cho tới ngày định kì thanh toán. Nhng để đợc chiết khấu các khoản thanh
toán, nhà xuất khẩu phải hợp đồng dịch vụ chống rủi ro và nộp lệ phí cho
dịch vụ này. Do đó, nghiệp vụ chiết khấu không u việt nh nghiệp vụ ứng trớc
tài chính và khoong thông dụng trong hoạt động Bao thanh toán. Tuy vậy nó
cũng u thế hơn là dịch vụ chiết khấu của tín dụng chứng từ vì đây là nghiệp
vụ chiết khấu không bảo lu, trong khi chiết khấu hối phiếu trong hoạt động
tín dụng th đợc phép truy hoàn ngời phát hành hối phiếu.
Thứ ba là chức năng chống rủi ro cho nhà xuất khẩu. Với chức năng này,
các tổ chức bao thanh toán đảm nhiệm những rủi ro do khả năng không
thanh toán của nhà nhập khẩu. Những rủi ro này xảy ra một khi nhà nhập
khẩu không có đủ khả năng thanh toán trong một thời hạn quy định và khi đó
Phạm Thị Hồng Hạnh Ngân hàng 44C
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét