Thứ Ba, 22 tháng 4, 2014

Quyền hiến bộ phận cơ thể của cá nhân theo quy định của Bộ Luật dân sự


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Quyền hiến bộ phận cơ thể của cá nhân theo quy định của Bộ Luật dân sự": http://123doc.vn/document/569762-quyen-hien-bo-phan-co-the-cua-ca-nhan-theo-quy-dinh-cua-bo-luat-dan-su.htm




Quyền hiến bộ phận cơ thể của cá nhân theo quy
định của Bộ Luật dân sự


Lê Hương Trà

Khoa Luật
Luận văn ThS ngành: Luật Dân sự; Mã số: 60 38 30
Người hướng dẫn: TS. Phùng Trung Tập
Năm bảo vệ: 2008


Abstract: Khái quát chung về quyền hiến bộ phận cơ thể cá nhân (BPCTCN) ở một số
nước trên thế giới, khái niệm quyền hiến BPCTCN và tiến trình phát triển những quy
định của pháp luật Việt Nam về quyền hiến bộ phận cơ thể của cá nhân. Trình bày các
yếu tố của quyền hiến BPCTCN gồm: chủ thể của quan hệ hiến và đối tượng của quan hệ
hiến. Nội dung quan hệ hiến BPCTCN: quyền của bên hiến BPCTCN và điều kiện hiến;
quyền của bên nhận BPCTCN và điều kiện nhận; hình thức, thủ tục tiến hành hiến; điều
kiện đối với cơ sở y tế, ghép mô, bộ phận cơ thể người; các hành vi nghiêm cấm; trách
nhiệm pháp lý và xử phạt vi phạm. Phân tích thực trạng pháp luật Việt Nam về quyền
BPCTCN. Nêu những vấn đề bất cập của pháp luật liên quan đến quyền hiến BPCTCN
hiện nay. Đề xuất hướng hoàn thiện những quy định pháp luật về hiến BPCTCN

Keywords: Luật dân sự; Pháp luật Việt Nam; Quyền hiến bộ phận cơ thể


Content
Phần mở đầu
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Theo xu huớng phát triển của thế giới, các nước liên kết với nhau trên tất cả các lĩnh vực
để phát triển đất nước ngày một hoàn thiện hơn. Hội nhập kinh tế, quốc tế trên phạm vi khu vực
và toàn cầu nhất là vấn đề gia nhập Tổ chức thương mại thế giới đã giúp cho tất cả các nước
khác nhau trên thế giới có điều kiện tăng trưởng và phát triển. Sự liên kết đã tạo nên sự bền vững
trong tất cả các lĩnh vực trong xã hội về văn hóa, chính trị, kinh tế, giáo dục, pháp luật, công
nghệ sinh học, khoa học ngành y…Khoa học ngành y đã thực sự phát triển mạnh mẽ trong việc
tìm tòi khám phá ra các phương pháp chữa bệnh mới trên cơ thể con người, cứu sống rất nhiều
bệnh nhân với chất lượng cuộc sống rất tốt. Để các phương pháp chữa bệnh mới được thực hiện
một cách có hiệu quả trong cuộc sống cần có quy phạm pháp luật để điều chỉnh. Vì vậy, đa số
các nước phát triển trên thế giới đã ban hành pháp luật để điều chỉnh quan hệ trong lĩnh vực khoa


học ngành y, quy chế pháp lý càng chặt chẽ, hoàn chỉnh, đúng đắn, kịp thời sẽ tạo nguồn lực
quan trọng, góp phần định hướng phát triển cho một công nghệ y sinh học của các nước trên thế
giới, đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội.
Việt Nam đã và đang từng bước hoàn thiện mình về kinh tế, pháp luật, xã hội, văn hóa, y
tế để đáp ứng nhu cầu phát triển của toàn nhân loại. Sau thời kỳ kinh tế tập trung quan liêu bao
cấp Việt Nam đã chuyển sang nền kinh tế thị trường vì vậy điều kiện kinh tế xã hội của đất nước
ngày càng phát triển kéo theo sự phát triển của mỗi một người dân về điều kiện sống, nhu cầu
của người dân ngày càng tăng, quyền của mỗi một cá nhân cần được pháp luật bảo hộ càng cao,
các quan niệm về chính trị, đạo đức, xã hội, công nghệ…của người dân cũng có nhiều thay đổi
theo hướng tốt đẹp hơn, hoàn thiện hơn. Công nghệ sinh học ở Việt Nam cũng đang từng bước
bắt kịp với thế giới, chúng ta đã đạt được rất nhiều thành tựu đáng tự hào, đặc biệt là kỹ thuật y
học. Trong đó, việc cho-nhận, cấy ghép các bộ phận cơ thể là một trong những thành tựu xứng
đáng được tự hào, rất nhiều cuộc phẫu thuật cấy, ghép bộ phận cơ thể người đã được thực hiện
rất thành công. Theo điều tra xã hội học cho thấy số người bị bệnh gan, tim, thận, phổi…cần phải
thực hiện phẫu thuật cấy, ghép ở Việt Nam lên tới con số hàng trăm, hàng nghìn. Đây là nhu cầu
rất khẩn thiết của những con người đang bị bệnh tật dày vò. Tìm kiếm bộ phận cơ thể để cấy,
ghép cũng là một điều rất khó khăn vì ngoài vấn đề hiến bộ phận cơ thể người của cá nhân được
đặt ra để cứu giúp những người trong thời kỳ bệnh tật rất quan trọng. Đồng hành với sự phát
triển kỹ thuật y học hiện đại, quy chế pháp lý để kiểm soát nó cùng các hoạt động trực tiếp liên
quan cũng dần được xây dựng và đang từng bước cố gắng hoàn thiện của Việt Nam cũng càng
ngày càng phát triển. Lần đầu tiên pháp luật Việt Nam quy định về lĩnh vực này trong Luật bảo
vệ sức khoẻ nhân dân 1989 với quy định cho và ghép các bộ phận cơ thể người (Điều 30) đã cho
phép các cơ sở y tế có thể có một căn cứ pháp lý để thực hiện chức phận thầy thuốc cứu người
của mình. Cho đến nay BLDS 2005 (Điều 33) đã chính thức ghi nhận quyền năng của các chủ
thể trong vấn đề này với tư cách là quyền nhân thân không thể phủ nhận. Đây là cơ sở pháp lý
mang tính tiền đề cho việc xây dựng và phát triển hoàn thiện quy chế pháp lý về cho, lấy, cấy,
ghép bộ phận cơ thể người trong hệ thống pháp luật Việt Nam, đồng thời tạo cơ hội phát triển
mới của y học Việt Nam. Quy định trong Bộ luật dân sự năm 2005 chỉ mang tính nguyên tắc và
những quy định này đã được cụ thể hóa trong Luật hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và
hiến, lấy xác năm 2006 nhằm điều chỉnh các quan hệ phát sinh từ việc áp dụng những kỹ thuật y
học tiến bộ này trong đời sống xã hội. Pháp luật quy định chặt chẽ vấn đề này vừa phù hợp với
đạo đức, truyền thống, văn hóa, vừa đảm bảo quyền của cá nhân được Nhà nước bảo hộ. Quyền
hiến bộ phận cơ thể nguời của cá nhân là quyền nhân thân thể hiện sự tự định đoạt của họ đối với
các bộ phận trên cơ thể mình. Việc hiến bộ phận cơ thể người được thực hiện một cách đúng đắn


sẽ có ý nghĩa tiến bộ và nhân đạo sâu sắc, góp phần vào sự phát triển của y học và khoa học vì
con người.
Việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về vấn đề này là rất quan trọng để đảm bảo quyền và
lợi ích hợp pháp của mỗi một cá nhân trong xã hội, đảm bảo các điều luật được ban hành trong
Bộ luật dân sự được thực thi có hiệu quả cao. Tôi đã chọn đề tài “Quyền hiến bộ phận cơ thể của
cá nhân theo Bộ luật dân sự 2005” để nghiên cứu, tìm hiểu giúp bạn đọc có thể hiểu hơn về
quyền được hiến bộ phận cơ thể của mỗi một cá nhân trong xã hội, thực trạng hiến, lấy, ghép mô,
bộ phận cơ thể người ở Việt Nam cũng như các quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề này,
góp phần hoàn thiện hơn nữa hệ thống pháp luật Việt Nam trong hoạt động hiến, lấy, ghép bộ
phận cơ thể người.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể đã được thực hiện thành công ở nhiều nước trên thế
giới từ rất lâu, đến nay đã rất phổ biến, đây là phương pháp điều trị mang lại cuộc sống cho rất
nhiều người bệnh nên có ý nghĩa nhân đạo rất sâu sắc. ở Việt Nam, nhu cầu được ghép là rất lớn
và ngày càng gia tăng, tuy nhiên nguồn cung cấp bộ phận cơ thể người để đáp ứng nhu cầu được
ghép lại rất khan hiếm khiến nhiều người bệnh phải ra nước ngoài để ghép trong khi chi phí cho
một cuộc phẫu thuật ở nước ngoài lại rất cao. Kỹ thuật y khoa, trình độ y bác sỹ của Việt Nam đã
phát triển đáp ứng được yêu cầu của kỹ thuật cấy ghép bộ phận cơ thể người nhưng tại sao người
bệnh vẫn phải ra nước ngoài để ghép, tại sao dân số Việt Nam rất đông mà bộ phận cơ thể người
để cứu sống bệnh nhân lại rất khan hiếm?
Vì vậy, mục đích nghiên cứu đề tài này là nghiên cứu về các yếu tố của quyền hiến bộ
phận cơ thể của cá nhân, Bộ luật dân sự Việt Nam 2005, pháp luật chuyên ngành quy định như
thế nào về vấn đề này? thực trạng hiến bộ phận cơ thể của cá nhân được thực hiện tại Việt Nam
ra sao? So với một số nước trên thế giới việc hiến bộ phận cơ thể của cá nhân có phát triển
không? có thua kém hay tụt hậu gì so với các nước trong khu vực và trên thế giới không? qua đó
đề ra hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật để đạt hiệu quả cao mà không vi phạm đạo
đức, phong tục tập quán của người Việt Nam và đề xuất những quy định của pháp luật cho phù
hợp với thực tế và xu hướng phát triển của y học Việt Nam.
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài “Quyền hiến bộ phận cơ thể của cá nhân theo quy định
của Bộ luật dân sự 2005” là:
- Quy định của một số nước trên thế giới về quyền hiến bộ phận cơ thể;
- Tiến trình phát triển các quy định của pháp luật Việt Nam về quyền hiến bộ phận cơ
thể;
- Các yếu tố của quyền hiến bộ phận cơ thể của cá nhân;


- Thực trạng pháp luật Việt Nam về quyền hiến bộ phận cơ thể;
- Hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật về quyền hiến bộ phận cơ thể.
Hiến, lấy, ghép bộ phận cơ thể là một lĩnh vực rất rộng vừa liên quan đến y học vừa liên
quan đến pháp luật. Tuy nhiên trong Luận văn này chỉ nghiên cứu đến khía cạnh pháp lý về
quyền hiến bộ phận cơ thể của cá nhân theo quy định của pháp luật Việt Nam từ trước cho đến
nay. Để các quy định về hiến bộ phận cơ thể được thực thi có hiệu quả trong thực tế Luận văn đã
nghiên cứu, phân tích những hạn chế của các quy định pháp luật và đưa ra một số giải pháp
nhằm hoàn thiện hơn hệ thống pháp luật của Việt Nam về quyền hiến bộ phận cơ thể của cá
nhân.
4. Tình hình nghiên cứu đề tài
Hiến bộ phận cơ thể là một việc làm nhân đạo đã cứu sống rất nhiều người bệnh. Nhận
thức được tầm quan trọng của hoạt động hiến bộ phận cơ thể, pháp luật của một số nước trong
khu vực và trên thế giới cũng đã quy định vấn đề này thành Luật riêng và quy định cụ thể trong
pháp luật chuyên ngành như Pháp, Hoa kỳ, Nhật, Singapore, Trung Quốc Do đó đã có rất nhiều
bài viết, nhiều công trình nghiên cứu khoa học, nhiều cuộc hội thảo thảo luận về vấn đề này.
Hiến bộ phận cơ thể là vấn đề bức thiết để chữa bệnh cho bệnh nhân thoát khỏi hiểm
nghèo, tuy nhiên ở Việt Nam đây là vấn đề mới có tính nhạy cảm cao liên quan đến phong tục
tập quán của người á Đông nên các đề tài nghiên cứu, các bài viết về vấn đề này còn rất ít. Trong
ngành y học đã có nhiều công trình nghiên cứu cấp nhà nước về vấn đề ghép mô, thận,
tạng thực nghiệm cho những người bị bệnh mạn tính ở giai đoạn cuối như đề tài : Nghiên cứu
một số vấn đề về ghép gan để tiến hành ghép gan trên người tại Việt Nam, đề tài cấp nhà nước
của Học Viện Quân Y năm 2005 hay bài giảng tại Học viện Quân Y của Đỗ Tất Cường và Cộng
sự : Ghép tạng, ghép thận và hồi sức điều trị sau ghép năm 2002.
Về lĩnh vực pháp luật, hiến bộ phận cơ thể tuy là vấn đề cấp thiết nhưng nó mới được quy
định mang tính nguyên tắc trong Bộ luật dân sự 2005 và được cụ thể hóa trong Luật Hiến, lấy, ghép
mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006 nên có rất ít người nghiên cứu, tìm hiểu về vấn
đề này. Tuy nhiên, cũng có một số bài viết đề cập về vấn đề này như:
- Luận văn thạc sỹ: Quyền nhân thân liên quan đến thân thể của cá nhân theo quy định
trong Bộ luật dân sự 2005 của Lê Thị Hoa, tháng 12/2006;
- Bài viết của Tiến sỹ Phùng Trung Tập về quyền hiến bộ phận cơ thể hoặc hiến xác sau
khi chết đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân số 5 tháng 3/2005;
- Khóa luận tốt nghiệp của Nguyễn Minh Du trường Đại học Luật Hà Nội về quyền hiến
bộ phận cơ thể theo quy định của Bộ luật dân sự, 2005 tháng 5/ 2006;


- Khóa luận tốt nghiệp của Trần Thị Thu Trang trường Đại học Luật Hà Nội về Luật
hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến lấy xác một số vấn đề lý luận và thực
tiễn, năm 2008;
- Bài viết của Nguyễn Mạnh Cường về Một số suy nghĩ khi Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ
phận cơ thể người và hiến, lấy xác được Quốc Hội thông qua trên Thông tin phổ biến
giáo dục pháp luật về y tế số 04 tháng 12/2006;
Ngoài ra còn có cuộc tọa đàm về Pháp lệnh hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và
khám nghiệm tử thi do Nhà pháp luật Việt pháp tổ chức năm 2004.
Các bài báo, tạp chí, tọa đàm và khóa luận tốt nghiệp đã đề cập về vấn đề này nhưng vào
các thời điểm khác nhau trong khi tình hình thực tiễn và pháp luật có nhiều thay đổi mang tính
chất bước ngoặt nên chưa toàn diện và chưa đầy đủ về mặt pháp lý, chưa đáp ứng được yêu cầu
của thực tiễn đặt ra, hơn nữa các bài viết trên không đi sâu phân tích quyền hiến bộ phận cơ thể
của cá nhân mà chỉ phân tích vấn đề này một cách tổng quát. Là điều luật mới trong bộ luật dân
sự nhưng nó đã đáp ứng nhu cầu cấp bách của xã hội cũng chính vì vậy tác giả đã mạnh dạn
nghiên cứu vấn đề này để quá trình thực hiện điều luật được hoàn thiện hơn, đưa ra một số giải
pháp giải quyết sự tồn tại của pháp luật trong việc quy định về quyền hiến bộ phận cơ thể của cá
nhân
5. Phương pháp nghiên cứu
Để để tài đạt hiệu quả cao trong thực tiễn, trong quá trình nghiên cứu đề tài đã sử dụng
các phương pháp truyền thống như :
+ Phương pháp duy vật biện chứng
+ Phương pháp lịch sử
+ Phương pháp so sánh
+ Phương pháp phân tích tài liệu
+ Phương pháp tổng hợp, đánh giá
+ Phương pháp quy nạp
+ Phương pháp diễn dịch
6. Đóng góp mới về mặt khoa học của Luận văn
Qua quá trình nghiên cứu, phân tích các quy định của pháp luật về quyền hiến bộ phận cơ
thể của các nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam tác giả đã đánh giá được thực trạng của Pháp
luật Việt Nam về vấn đề này. Dựa trên sự đánh giá đó tác giả đã đưa ra được một số giải pháp
nhằm góp phần hoàn thiện hơn nữa các quy định của pháp luật về quyền hiến bộ phận cơ thể của
cá nhân, đảm bảo các quy định của pháp luật được thực thi một cách có hiệu quả trong thực tế.
Khi pháp luật về hiến bộ phận cơ thể người được hoàn thiện và thống nhất như thế sẽ có nhiều


nguồn hiến bộ phận cơ thể cứu sống được nhiều người bệnh, giải quyết được tình trạng khan
hiếm nguồn cung cấp bộ phận cơ thể người ở nước ta hiện nay.
7. Kết cấu của Luận văn.
Luận văn 112 trang, bao gồm 3 chương
Chương 1, 27 trang, gồm 3 mục
Chương 2, 46 trang, gồm 3 mục
Chương 3, 31 trang, gồm 2 mục
Chương 1: Tác giả viết khái quát chung về quyền hiến bộ phận cơ thể của cá nhân bao gồm 3
mục trong đó:
* Mục 1: Tác giả viết về quyền hiến bộ phận cơ thể của cá nhân ở một số nước trên thế
giới. Để tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động hiến, lấy, ghép bộ phận cơ thể người một số nước trên
thế giới đã có đạo luật điều chỉnh quan hệ trong việc hiến, ghép bộ phận cơ thể người.
* Mục 2: Tác giả viết về khái niệm quyền hiến bộ phận cơ thể của cá nhân
Tiểu mục 1: Tác giả đi sâu tìm hiểu khái niệm bộ phận cơ thể người, bộ phận cơ thể tái
sinh và bộ phận cơ thể không tái sinh, mô, hiến bộ phận cơ thể người, quyền hiến hộ phận cơ thể
người, quyền nhân thân.
- Theo quy định tại Luật hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người thì “Hiến bộ phận cơ
thể người” là việc cá nhân tự nguyện hiến bộ phận cơ thể của mình khi còn sống hoặc sau khi
chết.
- Theo quy định trong Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005 thì “quyền hiến bộ phận cơ thể
người” là quyền nhân thân của cá nhân, gắn liền với mỗi cá nhân nên không thể chuyển giao cho
người khác.
- Quyền nhân thân là quyền dân sự của một chủ thể, quyền nhân thân của con người là
một quyền tự nhiên, tuyệt đối, không thể chuyển giao, nó có từ khi con người sinh ra và gắn liền
với người đó cho tới khi chết đi, mọi người đều có nghĩa vụ phải tôn trọng quyền nhân thân của
người khác.
Tiểu mục 2: Tác giả nghiên cứu về nguyên tắc thực hiện quyền hiến bộ phận cơ thể của
cá nhân.
- Nguyên tắc tự nguyện đối với người hiến, người được ghép.
- Nguyên tắc vì mục đích nhân đạo, chữa bệnh, giảng dạy hoặc nghiên cứu khoa học.
- Nguyên tắc không nhằm mục đích thương mại.
- Nguyên tắc giữ bí mật thông tin có liên quan đến người hiến, người được ghép.
* Mục 3: Tiến trình phát triển những quy định của pháp luật Việt Nam về quyền hiến bộ
phận cơ thể của cá nhân.


Hiến, cấy, ghép mô, Bộ phận cơ thể đã được pháp luật quy định lần đầu tiên vào năm
1989 trong Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân, sau đó là Điều lệ khám bệnh, chữa bệnh và phục hồi
chức năng năm 1991 đến Bộ luật dân sự năm 1995. Tuy nhiên, các quy định của pháp luật thời
kỳ này đã không quy định rõ trình tự, thủ tục hiến bộ phận cơ thể cũng như quyền lợi mà người
hiến được hưởng hay trách nhiệm pháp lý của những người hiến hay sử dụng bộ phận cơ thể
không vì mục đích y tế thì như thế nào? Việc quy định như trên vẫn còn chung chung chưa gắn
liền với thực tiễn nên việc áp dụng quy định của pháp luật để thực hiện trên thực tế là rất khó,
chưa tạo được hành lang pháp lý cho những người thầy thuốc tiến hành thực hiện lấy, ghép mô,
bộ phận cơ thể người.
Bộ luật dân sự năm 2005 đã quy định: “Cá nhân có quyền hiến bộ phận cơ thể của mình
vì mục đích chữa bệnh cho người khác hoặc nghiên cứu khoa học. Việc hiến và sử dụng bộ phận
cơ thể được thực hiện theo quy định của pháp luật”. Với tư cách là Luật chung, Bộ luật dân sự
2005 đã ghi nhận quyền hiến bộ phận cơ thể của cá nhân, đây là quy định mới mang tính nguyên
tắc, tuy nhiên Bộ luật đã tạo được hành lang pháp lý thúc đẩy ngành ghép tạng Việt Nam, tạo
tiền đề cho Luật hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể được ban hành quy định một cách cụ thể và
chi tiết hơn về quyền hiến bộ phận cơ thể của cá nhân.
Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác 2006 được ban hành đã
xây dựng riêng Chương II để quy định về hiến, lấy mô, bộ phận cơ thể ở người sống, trong đó
quy định rất cụ thể về các thủ tục, điều kiện, hiến bộ phận cơ thể ở người sống. Ngoài những quy
định đối với người hiến bộ phận cơ thể Luật còn các quy định liên quan đến người nhận bộ phận
cơ thể. Đây là một đạo luật quan trọng, mang tính nhân đạo sâu sắc nhằm đáp ứng yêu cầu thực
tiễn của việc chữa bệnh cứu người, giảng dạy, nghiên cứu khoa học, đồng thời cụ thể hóa các
quyền nhân thân đã được Bộ luật dân sự 2005 quy định trong việc hiến bộ phận cơ thể người, tạo
cơ sở pháp lý cho việc tiến hành lấy, ghép mô, Bộ phận cơ thể.

Chương 2 : tác giả nghiên cứu, phân tích về các yếu tố của quyền hiến bộ phận cơ thể của cá
nhân bao gồm 3 mục trong đó:
* Mục 1 : Chủ thể của quan hệ hiến bộ phận cơ thể bao gồm bên hiến và bên nhận bộ
phận cơ thể
Tiểu mục 1: Tác giả viết về bên hiến bộ phận cơ thể: Người hiến bộ phận cơ thể phải là
người từ đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, có quyền hiến mô, bộ phận cơ
thể của mình khi còn sống, sau khi chết và hiến xác vì mục đích nhân đạo, giảng dạy hoặc
nghiên cứu khoa học. Quy định về chủ thể hiến mô, bộ phận cơ thể người cũng được áp dụng
đối với cá nhân là người Việt Nam định cư ở nước ngoài và cá nhân là người nước ngoài có liên
quan đến hiến mô, bộ phận cơ thể người. Pháp luật không quy định độ tuổi tối đa của người hiến


bộ phận cơ thể nhưng trong y học quá trình khám chữa bệnh đã cho kết quả rằng nên hạn chế
người hiến bộ phận cơ thể là người cao tuổi do tình trạng sức khoẻ của người cao tuổi đa số
không đáp ứng đủ các yêu cầu chuyên môn trong ngành y như thế sẽ ảnh hưởng rất lớn đến
người nhận bộ phận cơ thể.
Pháp luật của Việt Nam cũng như đa số các nước đều quy định người hiến phải là người
đã thành niên. Người đã thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ có thể điều khiển hành vi
của mình do đó khi hiến bộ phận cơ thể của mình thể hiện được sự tự nguyện xuất phát từ mong
muốn của họ muốn cứu sống những người đang bị bệnh hiểm nghèo hoặc vì mục đích khoa học
hay vì sự phát triển của ngành y tế.
Tiểu mục 2: Bên nhận bộ phận cơ thể người: Pháp luật không quy định điều kiện về độ
tuổi và năng lực hành vi dân sự đối với người nhận bộ phận cơ thể.
- Người nhận bộ phận cơ thể là cá nhân: Đối với cá nhân việc nhận bộ phận cơ thể phải
xác định mục đích rõ ràng là để chữa bệnh cho mình, chỉ khi bản thân bị bệnh, cần bộ phận cơ
thể để cấy ghép cứu sống mình thì cá nhân mới được pháp luật cho phép nhận bộ phận cơ thể.
Luật nghiêm cấm việc nhận, sử dụng bộ phận cơ thể của người khác vì mục đích thương mại.
Đối với cá nhân nhận bộ phận cơ thể người là người mất khả năng tư duy hoặc hạn chế năng lực
hành vi dân sự vào thời điểm được cấy ghép các bộ phận cơ thể do người hiến thông qua biện
pháp y học thì phải được cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên hoặc người giám hộ của người
đó đồng ý, trong trường hợp có nguy cơ đe doạ đến tính mạng của bệnh nhân mà không chờ
được ý kiến của những người trên thì phải có quyết định của những người đứng đầu cơ sở y tế.
- Người nhận bộ phận cơ thể người để chữa bệnh, giảng dạy hoặc nghiên cứu khoa học:
Để phục vụ cho mục đích giảng dạy hoặc nghiên cứu khoa học thì các cơ quan giảng dạy, các cơ
sở nghiên cứu khoa học cũng được pháp luật cho phép nhận bộ phận cơ thể để phục vụ cho mục
đích của mình, để được nhận bộ phận cơ thể các cơ quan nghiên cứu, giảng dạy phải tuân theo
các quy định của pháp luật, phải đáp ứng đủ điều kiện pháp luật đã đề ra.
* Mục 2: Đối tượng của quan hệ hiến bộ phận cơ thể
Trong quyền hiến bộ phận cơ thể của cá nhân thì đối tượng của quyền hiến bộ phận cơ
thể là các bộ phận trên cơ thể của người có quyền hiến bộ phận cơ thể đó. Tuy nhiên, không phải
tất cả các bộ phận cơ thể của con người đều là đối tượng của quyền hiến bộ phận cơ thể. Chỉ có
những bộ phận cơ thể khi được hoặc bị lấy ra khỏi cơ thể của người hiến trước hết sẽ không ảnh
hưởng trực tiếp đến tính mạng của người đó; bộ phận đó có thể được lấy ra khỏi cơ thể người
hiến mà không đe dọa sự sinh tồn của họ do các đặc tính sinh học của bộ phận đó đối với cơ thể
sống của con người; bộ phận cơ thể có thể tái sinh theo thời gian, tùy thuộc vào độ tuổi và tình
trạng sức khỏe của người hiến như một phần lá gan hoặc một số mô da hoặc cơ. Nếu nhìn nhận


dưới góc độ khác, ta sẽ thấy các bộ phận cơ thể là đối tượng của quyền hiến này sẽ bao gồm hai
loại sau:
Các bộ phận cơ thể lành lặn, khỏe mạnh, bình thường sẽ được dùng vào mục đích chữa
bệnh cho người khác, và có thể là dùng để nghiên cứu khoa học.
Các bộ phận cơ thể đã bị bệnh, hoặc bị khuyết tật bẩm sinh do khiếm khuyết về mặt di
truyền hoặc là do ảnh hưởng bởi môi trường và các điều kiện ngoại cảnh nói chung chỉ có thể
được dùng vào mục đích nghiên cứu khoa học.
* Mục 3: Nội dung quan hệ hiến bộ phận cơ thể bao gồm các quy định về :
- Quyền của bên hiến bộ phận cơ thể người và điều kiện hiến bộ phận cơ thể người
Người hiến bộ phận cơ thể được quyền chăm sóc, phục hồi sức khỏe ngay sau khi thực
hiện việc hiến mô, bộ phận cơ thể người, được ưu tiên ghép mô, bộ phận cơ thể người khi mắc
bệnh cần phải ghép theo chỉ định của bác sỹ và chỉ được khám chữa bệnh không phải trả viện phí
tại các cơ sở y tế của nhà nước đối với các bệnh có liên quan trực tiếp tới việc hiến bộ phận cơ
thể. Việc hiến bộ phận cơ thể liên quan đến nhiều vấn đề xã hội, tâm linh, phong tục tập
quán…nên pháp luật rất tôn trọng quyết định của người hiến, người hiến có thể quyết định hiến
hay không hiến bộ phận cơ thể của mình kể cả khi họ đã thể hiện sự tự nguyện hiến bộ phận cơ
thể của mình bằng đơn xin hiến bộ phận cơ thể đến khi họ không muốn họ cũng có quyền thay
đổi bằng việc hủy bỏ đơn, không ai có quyền ép buộc hay ngăn cản sự thay đổi của họ, pháp luật
tôn trọng sự bất khả xâm phạm về thân thể của con người.
- Quyền của bên nhận bộ phận cơ thể và điều kiện nhận bộ phận cơ thể người:
Theo quy định của pháp luật Việt Nam cá nhân có quyền nhận bộ phận cơ thể của người
khác để chữa bệnh cho mình. Quy định trên của pháp luật Việt Nam là vì sức khỏe của người
dân, pháp luật quy định như vậy là để đảm bảo an toàn về tính mạng, sức khỏe, thân thể của
người dân. Đối với cơ sở y tế, cơ quan nghiên cứu khoa học các cơ quan này cũng có quyền nhận
bộ phận cơ thể người với điều kiện để phục vụ cho mục đích nghiên cứu khoa học hoặc để chữa
bệnh không vì mục đích lợi nhuận và kinh doanh thương mại. Đối với cơ sở y tế lấy, ghép mô,
bộ phận cơ thể người phải đáp ứng đầy đủ các quy định của pháp luật về đội ngũ cán bộ; năng
lực chuyên môn của đội ngũ cán bộ; cơ sở vật chất; phải có đơn vị ghép thực nghiệm, đơn vị lọc
máu, phòng xét nghiệm, trang thiết bị, dụng cụ y tế, có đủ chủng loại và số lượng thuốc cần thiết.
- Hình thức, thủ tục hiến bộ phận cơ thể của cá nhân:
Hiến bộ phận cơ thể của cá nhân phải được lập thành văn bản, đây là điều kiện bắt buộc
giữa các bên, cơ sở y tế là cơ quan có quyền nhận đơn đăng ký hiến phải tư vấn và tiến hành thủ
tục cho người hiến viết vào mẫu đơn thể hiện sự tự nguyện hiến bộ phận cơ thể của cá nhân. Đơn
đăng ký hiến là căn cứ xác định ý chí của người hiến hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc,
lừa dối hay dụ dỗ, và cũng là căn cứ để các cơ quan có thẩm quyền tiến hành lấy mô, bộ phận cơ


thể người theo đơn đã đăng ký. Trong trường hợp cấp cứu mà cần phải ghép mô hoặc cần ghép
mô cho cha, mẹ, anh chị em ruột thì được phép lấy mô của người chưa đăng ký hiến nếu có sự
đồng ý của người đó.
Để thực hiện quyền hiến bộ phận cơ thể, đầu tiên, cá nhân phải làm thủ tục đăng ký hiến
bộ phận cơ thể, sau đó, họ được tư vấn, thăm khám, chăm sóc; sau khi đánh giá họ đủ các điều
kiện sẽ được người có thẩm quyền của cơ sở y tế được cấp phép tiến hành lấy bộ phận cơ thể ra
khỏi cơ thể, chăm sóc tái hồi phục sau khi lấy bộ phận cơ thể. Cá nhân cũng có quyền thay đổi,
hủy bỏ đơn đăng ký hiến bộ phận cơ thể
- Điều kiện đối với cơ sở y tế lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người.
- Các hành vi bị nghiêm cấm: Pháp luật quy định rất cụ thể các hành vi các chủ thể không
được làm khi thực hiện hoạt động hiến, lấy, ghép bộ phận cơ thể như: ép buộc người khác phải
cho mô, bộ phận cơ thể người hoặc lấy mô, bộ phận cơ thể của người không tự nguyện hiến;
Mua, bán mô, bộ phận cơ thể người; mua, bán xác; Lấy, ghép, sử dụng, lưu giữ mô, bộ phận cơ
thể người vì mục đích thương mại; Lấy mô, bộ phận cơ thể ở người sống dưới mười tám tuổi;
Ghép mô, bộ phận cơ thể của người bị nhiễm bệnh theo danh mục do Bộ trưởng Bộ Y tế quy
định; Cấy tinh trùng, noãn, phôi giữa những người cùng dòng máu về trực hệ và giữa những
người khác giới có họ trong phạm vi ba đời; Quảng cáo, môi giới việc hiến, nhận bộ phận cơ thể
người vì mục đích thương mại; Tiết lộ thông tin, bí mật về người hiến và người được ghép trái
với quy định của pháp luật; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để làm sai lệch kết quả xác định chết
não.
- Trách nhiệm pháp lý và xử lý vi phạm: Bộ Luật dân sự Việt Nam đã quy định trách
nhiệm bồi thường thiệt hại đối với những hành vi gây thiệt hại về sức khỏe Để bồi thường thiệt
hại về sức khỏe những chi phí hợp lý được đền bù bao gồm chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi
dưỡng, hồi phục sức khỏe và các chức năng bị mất, bị giảm sút, chi phí cho người chăm sóc
người bị thiệt hại, thu nhập thực tế của người bị thiệt hại bị mất và tổn thất về tinh thần mà người
bị thiệt hại phải gánh chịu. Về trách nhiệm hình sự thì Bộ luật hình sự năm 1999 không có qui
định hành vi mua, bán bộ phận người sống là tội phạm (chỉ có điều 246 qui định về tội xâm
phạm thi thể, mồ mả, hài cốt). Như vậy, việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành
vi mua, bán bộ phận cơ thể người chưa thể thực hiện được.

Chương 3: Tác giả đi sâu phân tích thực trạng pháp luật Việt Nam về quyền hiến bộ phận cơ thể
và hướng hoàn thiện những quy định về quyền hiến bộ phận cơ thể của cá nhân
* Mục 1: Thực trạng pháp luật Việt Nam về quyền hiến bộ phận cơ thể của cá nhân
- Tác giả viết về tình hình ghép bộ phận cơ thể người và nhu cầu ghép bộ phận cơ thể
người ở Việt Nam:


- Thực trạng pháp luật Việt Nam vể quyền hiến bộ phận cơ thể của cá nhân: Pháp luật
quy định về hiến bộ phận cơ thể của Việt Nam đã bị chậm một thời gian khá dài so với các nước
trên thế giới. Năm 1989, Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân là văn bản pháp luật đầu tiên của nước
ta đã có quy định cụ thể về lấy và ghép mô hoặc bộ phận của cơ thể con người và được quy định
chi tiết hơn trong Điều lệ khám bệnh, chữa bệnh và phục hồi chức năng ban hành kèm theo Nghị
định của Hội đồng Bộ trưởng số 23-HĐBT ngày 24 tháng 1 năm 1991. Tất cả các quy định của
pháp luật nước ta thời kỳ này nói chung mới chỉ quan tâm đến thủ tục của việc lấy ghép nhằm
mục đích thử nghiệm và nghiên cứu khoa học hơn là các quy định mang tính dân sự như bản chất
vốn có của vấn đề này. Thực tế thì quyền hiến bộ phận cơ thể của cá nhân chưa được pháp luật
công nhận như là một quyền về nhân thân gắn với mỗi cá nhân.
Dước góc độ nghiên cứu pháp luật cho thấy cần thiết phải ghi nhận quyền hiến mô, bộ
phận cơ thể người là một quyền nhân thân cơ bản. BLDS 2005 lần đầu tiên ghi nhận quyền hiến
bộ phận cơ thể của cá nhân tạo nên một hành lang pháp lý cơ bản cho cá nhân thực hiện quyền
này. Nó là căn cứ để cho việc hiến tặng, cấy ghép mô tạng và bộ phận cơ thể có thể được tiến
hành trên thực tế một cách chính thống, mở đường cho các quy định chi tiết của các cơ quan
chuyên môn có thẩm quyền để triển khai trên thực tế, là cơ sở cho hy vọng sống, quyền sống của
các cá nhân đang mắc các bệnh hiểm nghèo có nhu cầu cấy ghép bộ phận cơ thể.
Luật hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác ban hành năm 2006 đã cụ
thể hóa quyền hiến bộ phận cơ thể của cá nhân một cách chi tiết, hoàn chỉnh hơn. Luật đã tạo cơ
sở pháp lý để các cá nhân, cơ quan, tổ chức có thể căn cứ vào đó để giải quyết các tranh chấp
phát sinh, thực hiện các quyền và nghĩa vụ được quy định trong luật. Đây là một quy định quan
trọng, mang tính nhân đạo nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn của việc chữa bệnh cứu người, giảng
dạy, nghiên cứu khoa học, đồng thời cụ thể hóa quyền nhân thân đã được BLDS 2005 quy định
trong việc hiến bộ phận cơ thể người, tạo cơ sở pháp lý cho việc tiến hành hiến, lấy, ghép mô, bộ
phận cơ thể người, giúp cho quyền hiến bộ phận cơ thể của cá nhân đã được quy định tại điều 33
BLDS có đủ căn cứ tiến hành và có thể thực thi hiệu quả trên thực tế.
* Mục 2: Hướng hoàn thiện những quy định của pháp luật về quyền hiến bộ phận cơ thể
của cá nhân.
- Những vấn đề bất cập của pháp luật liên quan đến quyền hiến bộ phận cơ thể của cá
nhân hiện nay:
Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác là văn bản luật đầu tiên
điều chỉnh chuyên biệt về lĩnh vực này, tuy nhiên đây là một lĩnh vực rất mới mẻ và phức tạp nên
nó không tránh khỏi những bất cập nhất định cần được hoàn thiện.
+ Chưa đồng nhất trong việc quy định tế bào, mô và bộ phận cơ thể người trong quy định
của pháp luật, chưa đảm bảo tính nhất quán của pháp luật. Sửa đổi quy định của BLDS theo


hướng ghi nhận cả quyền hiến tế bào, mô, bộ phận cơ thể người để đảm bảo tính thống nhất của
pháp luật.
+ Chưa có quy phạm cụ thể nào điều chỉnh việc hiến, lấy mô, bộ phận cơ thể người nhằm
mục đích nghiên cứu khoa học, giảng dạy, cần ban hành các quy định cụ thể đối với hoạt động
hiến bộ phận cơ thể vì hai mục đích trên.
+ Luật chưa đưa ra chế tài áp dụng khi vi phạm một trong những hành vi bị pháp luật
nghiêm cấm. Trong khi đó, Bộ luật Hình sự cũng chưa có điều khoản nào điều chỉnh về loại tội
phạm này, cần sửa đổi, bổ sung vào Bộ luật Hình sự những điều khoản về loại tội phạm liên
quan đến các hành vi bị cấm tại Điều 11 để có thể xử lý nghiêm loại tội phạm mới và hết sức
nguy hiểm này. Trong Luật hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến lấy xác cũng nên
quy định các chế tài cụ thể để xử lý các hành vi của các chủ thể. Đối với từng hành vi nên áp
dụng từng chế tài riêng như phạt tiền, kỷ luật, truy cứu trách nhiệm hình sự, rút giấy phép hành
nghề hay rút giấy phép hoạt động, đình chỉ hoạt động để khi có vi phạm hay có tranh chấp xảy
ra cơ quan có thẩm quyền giải quyết có thể căn cứ ngay vào các quy định của luật để giải quyết
mà không cần viện dẫn từ các quy định khác của pháp luật, đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa.
+ Chưa quy định chế tài áp dụng đối với trách nhiệm của người tiến hành lấy ghép Bộ
phận cơ thể người, nên quy định chế tài cụ thể trong Luật.
+ Thủ tục đăng ký hiến mô, bộ phận cơ thể ngơười sống, thủ tục thay đổi, hủy bỏ việc
hiến mô, bộ phận cơ thể hiện nay quy định quá rườm rà, phức tạp, nhiều trường hợp rất khó thi
hành trên thực tế, đề nghị sửa đổi khoản 4, Điều 12, Điều 18 theo hươớng: “Cơ sở y tế có trách
nhiệm mời người hiến đến cơ sở y tế để trực tiếp cung cấp đầy đủ các thông tin có liên quan cho
ngươời hiến biết”. Như vậy, khi muốn hiến bộ phận cơ thể cá nhân nên đến cơ sở y tế để được tư
vấn và thực hiện các thủ tục cần thiết khác.
+ Luật đã cho phép ngân hàng mô tư nhân được phép hoạt động, vấn đề kiểm soát việc
tuân thủ pháp luật của những cơ sở tư nhân này là một vấn đề không hề đơn giản trong thực tế vì
hiện nay các cơ sở y tế công lập nhiều khi cũng gặp khó khăn rất lớn trong vấn đề trang thiết bị,
nguồn vốn, đội ngũ cán bộ kỹ thuật chuyên khoa, đối với tư nhân đây là vấn đề rất lớn trong khi
hoạt động này là hoạt động nhân đạo, không vì mục đích lợi nhuận vì vậy dễ phát sinh những
hoạt động vi phạm pháp luật, trái đạo đức xã hội.
- Hướng hoàn thiện những quy định của pháp luật về hiến bộ phận cơ thể của cá nhân :
+ Về việc hiến mô, bộ phận cơ thể ở người sống, có ý kiến cho rằng mô và bộ phận cơ
thể là hai vấn đề khác nhau, trong đó việc hiến, lấy mô cần thủ tục đơn giản hơn và ít gây hậu
quả hơn nhiều so với hiến, lấy bộ phận cơ thể người mà đặc biệt là thận. Do vậy, cần quy định
riêng một số điều về hiến, lấy bộ phận cơ thể, đặc biệt là thận cũng như các mô, bộ phận cơ thể
không thể tái tạo được từ người sống để tránh sự lợi dụng mua bán thận như đang diễn ra ở một


số nước và tránh hậu quả xấu về sức khỏe sau này của người cho. Luật cũng nên quy định chặt
chẽ những điều khoản cam kết khi hiến Bộ phận cơ thể, chẳng hạn không đòi hỏi sự đền bù về
vật chất nếu có những bất lợi đến sức khỏe của người hiến Bộ phận cơ thể sau đó.
+ Mặt khác, điểm a, khoản 2, Điều 17 của Luật cần làm rõ hơn về quy định khám sức
khoẻ định kỳ bởi quy định này quá chung chung và khó thực hiện trên thực tiễn, đề nghị sửa
điểm a, Khoản 2, Điều 17 của Luật hoặc quy định giải thích ở một văn bản dưới luật như sau:
“Được chăm sóc, phục hồi sức khoẻ miễn phí ngay sau khi hiến bộ phận cơ thể tại cơ sở y tế,
được khám định kỳ miễn phí và được điều trị miễn phí với những bệnh lý trực tiếp hoặc gián tiếp
gây ra từ việc hiến mô, bộ, phận cơ thể người”.
+ Về chế độ bảo hiểm y tế và viện phí đối với người ghép: để giảm gánh nặng cho Nhà
nước, chúng ta nên ban hành văn bản pháp luật cho phép các loại hình bảo hiểm mới chuyên về
lĩnh vực này hoạt động, dựa trên cơ sở liên doanh với nước ngoài hoặc 100% vốn nước ngoài để
phục vụ chăm sóc, phục hồi sức khoẻ cho người ghép.
+ Nhà nước ta cần có kế hoạch, chính sách tuyên truyền, phổ biến để người dân hiểu rõ
tác dụng của bộ phận cơ thể đối với xã hội, khuyến khích cá nhân hiến bộ phận cơ thể đã bị loại
bỏ ra khỏi cơ thể của mình để phục vụ cho mục đích giảng dạy hoặc nghiên cứu khoa học. Thực
hiện được điều đó, nguồn cung cấp bộ phận cơ thể của Việt Nam sẽ ngày càng được nâng cao.
+ Chúng ta chưa có một trung tâm ghép bộ phận cơ thể là nguyên nhân quan trọng khiến
kỹ thuật hiến bộ phận cơ thể chưa thể trở thành thường quy. Trung tâm này cần có cơ sở hạ tầng
và trang thiết bị tối tân, chuyên dụng với các chuyên gia giỏi nhất về ghép bộ phận cơ thể
+ Ngoài ra, Nhà nước ta cũng cần đầu tư xây dựng cơ sở vật chất trang bị kỹ thuật hiện
đại cùng đội ngũ bác sỹ chuyên sâu cho các trung tâm, các cơ sở y tế được trao nhiệm vụ triển
khai thực hiện ghép Bộ phận cơ thể theo quy hoạch đã duyệt. Đầu tư kinh phí cho các trung tâm,
cơ sở ghép bộ phận cơ thể kết hợp với việc xã hội hóa huy động kinh phí hỗ trợ từ nhiều nguồn
cho việc ghép bộ phận cơ thể, thành lập quỹ hỗ trợ cho hoạt động ghép bộ phận cơ thể cho
những người nghèo
+ Miễn dịch sau ghép là rất quan trọng ảnh hưởng đến quá trình hồi phục của bệnh nhân
vì vậy các trung tâm, các cơ sở tiến hành cấy ghép cần học hỏi và thực hiện khâu miễn dịch tốt
hơn góp phần đảm bảo an toàn tính mạng cho người bệnh. Bên cạnh đó muốn phát triển ngành
ghép bộ phận cơ thể thì ngay tại mỗi bệnh viện cũng nên thành lập khoa ghép mô, bộ phận cơ thể
riêng nhằm chuyên môn hóa hoạt động cấy, ghép bộ phận cơ thể tạo điều kiện cho các bác sỹ
chuyên khoa có cơ hội nâng cao tay nghề và nâng cao trách nhiệm của mình.
+ Hiện tại ở Việt Nam mặc dù đã có nhiều trường hợp ghép bộ phận cơ thể thành công
chứng tỏ khả năng về mặt y học của Việt Nam không thiếu, tuy nhiên do nhiều yếu tố khách
quan, việc ghép bộ phận cơ thể cũng chỉ mới dừng ở những trường hợp riêng lẻ trong đó chủ yếu


là người thân trong gia đình hiến bộ phận cơ thể. Lý do phần vì chi phí xét nghiệm kháng nguyên
hòa hợp mô rất đắt (6-8 triệu đồng/ca) không thể xét nghiệm hết tất cả những người cần bộ phận
cơ thể và những người cho bộ phận cơ thể để đưa vào danh sách chờ có trường hợp trùng khớp,
phần vì đã có luật về hiến, ghép bộ phận cơ thể có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2007 nhưng thời
gian chờ đợi để ban hành nghị định hướng dẫn thi hành quá lâu. Vì vậy, các cơ quan có thẩm
quyền cần nhanh chóng ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành liên quan đến việc hiến bộ
phận cơ thể để các quy định của pháp luật sớm được thi hành trong cuộc sống.
Để góp phần bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân ngày càng tốt hơn, Luật hiến, lấy, ghép
mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác đã đuợc ban hành. Đây là văn bản luật đầu tiên điều
chỉnh chuyên biệt một lĩnh vực rất mới mẻ, nhạy cảm và phức tạp nên nó không tránh khỏi
những bất cập cần phải hoàn thiện như trên. Hơn nữa để Luật sớm được áp dụng và thật sự đi
vào cuộc sống cần phải thực hiện các kế hoạch như sau:
- Làm tốt công tác thông tin tuyên truyền trong cộng đồng những hiểu biết về ghép mô,
bộ phận cơ thể người. Thành lập các Ngân hàng mô, bộ phận cơ thể người, các Quỹ hoạt động hỗ
trợ cho việc ghép mô, bộ phận cơ thể người. Xây dựng các quy trình đối ngoại trong việc hiến,
lấy, bảo quản và trao đổi nhân đạo các mô bộ phận cơ thể người giữa các ngân hàng mô, bộ phận
cơ thể người trong nước và một số nước trong khu vực ;
- Có dự án xây dựng cơ quan điều phối các hoạt động về hiến, lấy, bảo quản, cung cấp
mô, bộ phận cơ thể người ở cả ba khu vực miền Bắc, miền Trung, miền Nam để tập trung điều
phối cung và cầu cho các cơ sở ghép mô, bộ phận cơ thể người;
- Xây dựng các Qũy nhân đạo hỗ trợ việc ghép bộ phận cơ thể cho người nghèo;
- Xây dựng các văn bản dưới luật để hướng dẫn việc thực hiện, tuân thủ theo đúng các
quy định của Luật ;
- Đào tạo quy hoạch đội ngũ cán bộ nhân viên kỹ thuật chuyên sâu về nội dung ghép mô,
bộ phận cơ thể người để sớm định hướng phát triển, tăng cường hợp tác quốc tế với các tổ chức
quốc tế và khu vực về ghép mô, bộ phận cơ thể người như Quỹ nhân đạo; Ngân hàng mô, bộ
phận cơ thể người; Hội ghép mô, Bộ phận cơ thể người; thế vận hội những người ghép tạng; các
tổ chức quốc gia, châu lục về ghép mô, Bộ phận cơ thể người Có thể tổ chức đăng cai thế vận
hội những người ghép tạng tại nước ta trong tương lai;
- Tạo nguồn kinh phí để phát triển ghép tạng: Từ nguồn ngân sách Nhà nước, viện trợ và
tài trợ quốc tế như Quỹ vốn đầu tư phát triển, dự án của Tổ chức y tế thế giới, các khoản tài trợ
quốc tế hay từ nguồn đóng góp của cộng đồng như các Quỹ nhân đạo, bảo hiểm y tế, thu viện phí
của người bệnh.

Kết luận.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét