LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Phân tích hoạt động cho vay tín dụng trung – dài hạn tại ngân hàng đầu tư và phát triển Cần Thơ": http://123doc.vn/document/542147-phan-tich-hoat-dong-cho-vay-tin-dung-trung-dai-han-tai-ngan-hang-dau-tu-va-phat-trien-can-tho.htm
* Theo mức độ tín nhiệm của khách hàng:
Tiêu thức này có thể phân thành hai loại:
- Cho vay không bảo đảm: là loại cho vay không có tài sản thế chấp, hoặc
cầm cố hay có sự bảo đảm của bên thứ ba nào khác mà chỉ dựa vào uy tín của bản
than khách hàng vay vốn mà quyết định cho vay.
- Cho vay có sự bảo đảm: là loại cho vay dựa trên cơ sở các bảo đảm cho
vay tiền cho vay dựa trên cơ sở các bảo đảm cho vay tiền thế chấp, hoặc cầm cố
hay có sự bảo đảm của bên thứ ba nào khác, sự bảo đảm là căn cứ pháp lý để ngân
hàng có thêm một nguồn thu nợ thứ hai, bổ sung vào nguồn thu nợ thứ nhất.
* Theo phương thức cho vay:
Phương thức này dược chia làm hai loại:
- Cho vay từng lần.
- Cho vay theo hạn mức tín dụng
1.1.2. Một số vấn đề chung về tín dụng ngân hàng
1.1.2.1. Nguyên tắc cho vay
Khi tham gia vào quan hệ tín dụng, các doanh nghiệp vay vốn đều quán
triệt các nguyên tắc tín dụng. Trong kinh doanh tiền tệ, các ngân hàng phải dựa
trên nguyên tắc này để xem xét xây dựng, thực hiện và xử lý những vấn đề liên
quan đến tiền vay, khách hàng vay vốn cũng phaỉ tuân thủ và bị rang buộc bởi các
yêu cầu đặt ra theo xu hướng mà nguyên tắc này đòi hỏi. Đó là các nguyên tắc:
Nguyên tắc 1: Tiền vay phải được sử dụng đúng mục đích đã
thõa thuận trên hợp đồng tín dụng.
Theo nguyên tắc này, tiền vay phải được sử dụng đúng cho các nhu cầu đã
được bên vay trình bày với ngân hàng và đã được ngân hàng cho vay chấp nhận.
Đó là các khoản phí, những đối tượng phù hợp với nội dung sản xuất kinh doanh
của bên vay. Ngân hàng có quyền từ chối và huỷ bỏ các yêu cầu vay vốn không
được sử dụng đúng mục đích thoã thuận. Việc sử dụng vốn vay sai mục đích thể
Trang 5
hiện sự thất tín của bên vay và hứa hẹn những rủi ro cho tiền vay. Do đó, tuân thủ
nguyên tắc này, khi cho vay ngân hàng có quyền yêu cầu buộc bên vay phải sử
dụng tiền vay đúng mục đích đã cam kết và thường xuyên giám sát hoạt động của
bên vay về việc sử dụng vốn.
Nguyên tắc 2: Tiền vay phải được hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi
đúng hạn đã thoã thuận trong hợp đồng tín dụng.
Trong khoảng thời gian giao dịch quyền sử dụng vốn vay theo cam kết, ngân
hàng và bên vay thoã thuận trong hợp đồng rằng ngân hàng sẽ chuyển giao qyền
sử dụng một lượng giá trị nhất định cho bên vay. Khi kết thúc kỳ hạn, bên vay phải
hoàn trả quyền này cho ngân hàng và một khoản chi phí nhất định( gốc và lãi ).
Đây là nguyên tắc bảo tồn của tín dụng: Tiền vay được bảo đảm giá trị, thu
hồi được cả gốc lẫn lãi. Vì đây là nguồn vốn do ngân hàng huy động, ngân hàng
phải trả lãi tiền gửi khi đến hạn thanh toán. Nguyên tắc này là cơ sở cho sự phát
triển mối quan hệ của ngân hàng theo xu thế đảm bảo an toàn. Đồng thời ràng
buộc ngân hàng không thể cung cấp vốn cho các khách hàng làm ăn yếu kém và
không hiệu quả, không trả được nợ, làm giảm vòng vay vốn của ngân hàng phục
vụ cho nền kinh tế.
1.1.2.2. Điều kiện cho vay.
- Có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách
nhiệm dân sự theo qui định của pháp luật.
- Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ theo thời hạn cam kết.
- Mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp.
- Có dự án đầu tư, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khả thi và có
hiệu quả, phù hợp với quy định của pháp luật.
- Thực hiện các quy định về đảm bảo tiền vay theo quy định của Chính
phủ và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
1.1.2.3. Đối tượng cho vay.
Trang 6
Đối tượng cho vay của ngân hàng là phần thiếu hụt trong tổng giá trị cấu
thành tài sản cố định, tài sản lưu động và các khoản chi phí cho quá trình sản xuất
kinh doanh của khách hàng trong một thời kỳ nhất định.
Ngân hàng cho vay các đối tượng sau:
- Giá trị vật tư, hàng hoá, máy móc thiết bị và các khoản chi phí để khách
hàng thực hiện các dự án sản xuất kinh doanh, dịch vụ đời sống và đầu tư phát
triển.
- Số tiền thuế xuất – nhập khẩu mà khách hàng phải nộp để làm thủ tục
xuất khẩu nhập khẩu…được tính vào giá thành hàng hoá xuất nhập khẩu. Qua đó
ngân hàng đã tham gia tích cực vào quá trình lưu thông hàng hoá một cách nhanh
nhất, tạo điều kiện tốt nhất cho khách hàng .
- Số tiền vay trả cho các tổ chức tín dụng trong thời gian thi công công
trình chưa bàn giao và đưa tài sản cố định vào sử dụng đối với cho vay trung và
dài hạn để đầu tư tài sản cố định mà khoản lãi được tính trong giá trị tài sản cố
định đó.
Ngân hàng không cho vay với các đối tượng sau:
- Số tiền thuế phải nộp ( trừ các khoản thuế ở trên).
- Số tiền để trả nợ gốc và lãi cho các tổ chức tín dụng cho vay vốn.
Theo quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam còn quy định tổ chức tín dụng không được cho vay các nhu cầu vốn sau
đây:
- Để mua sắm các tài sản và các chi phí hình thành nên tài sản mà pháp luật
cấm mua bán, chuyển đổi, chuyển nhượng.
- Để thanh toán các chi phí cho việc thực hiện các giao dịch mà pháp luật
cấm.
- Để đáp ứng các nhu cầu tài chính của các giao dịch mà pháp luật cấm.
1. 1.2.4. Thời hạn cho vay
Trang 7
Là khoản thời gian mà bên vay được sử dung vốn vay, được tính từ khi
ngân hàng cho rút tiền vay đầu tiên cho đến khi thu hồi hết nợ. thời hạn cho vay
được các bên thoã thuận phù hợp với chu kỳ sản xuất kinh doanh hàng hoá chăn
nuôi, trồng trọt… và phù hợp vói khả năng thanh toán của khách hàng.
1.1.2.5. Phương thức cho vay
Tổ chức tín dụng thoã thuận với khách hàng vay việc áp dụng các phương
thức cho vay:
- Vay từng lần: mỗi lần vay vốn khách hàng và tổ chức tín dụng thực hiện
thủ tục vay vốn cần thiết và ký hợp đồng tín dụng.
- Cho vay theo hạn mức tín dụng: tổ chức tín dụng và khách hàng xác định
và thoã thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoản thời gian nhất định
- Cho vay theo dự án đầu tư: tổ chức tín dụng cho khách hàng vay vốn để
thực hiện các dự án đầu tư, phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án
đầu tư phục vụ đời sống.
- Cho vay hợp vốn: một nhóm tổ chức tín dụng cùng cho vay với một dự
án vay vốn hay phương án vay vốn với khách hàng; trong đó, có một tổ chức tín
dụng làm đầu mối dàn xếp, phối hợp với các tổ chức tín dụng khác.
- Cho vay trả góp: khi góp vốn, tổ chức tín dụng và khách hàng xác định
và thoã thuận số lãi vốn vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ
theo nhiều kỳ hạn trong thời hạn cho vay.
- Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: tổ chức tín dụng cam kết đảm
bảo sẵn sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng nhất định.
Tổ chức tín dụng và khách hàng thoã thuận thời hạn hiệu lực của hạn mức tín dụng
dự phòng.
- Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành thẻ và sử dụng thẻ tín dụng: tổ
chức tín dụng chấp nhận cho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng
để thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ và rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động
hoặc điểm ứng tiền mặt là đại lý của tổ chức tín dụng. Khi cho vay và phát hành và
Trang 8
sử dụng thẻ tín dụng và khách hàng phải tuân theo các quy định của Chính phủ và
Ngân hàng nhà nước Việt Nam về phát hành và sử dụng thẻ tín dụng.
- Cho vay theo hạn mức thấu chi: là việc cho vay mà tổ chức tín dụng thoã
thuận bằng văn bản chấp thuận cho khách hàng chi vượt số tiền có trên tài khoản
thanh toán của khách hàng phù hợp với quy định của chính phủ và Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam về hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh
toán.
1.1.2.6. Lãi suất cho vay.
Là tỉ lệ phần trăm giũa số lợi tức thu được trong kì so với số vốn cho vay
phát ra trong một thời điểm nhất định.
Về bản chất, lợi tức là một phần lợi nhuận được sáng tạo ra trong quá
trình sản xuất kinh doanh mà người đi vay phải trả cho người cho vay theo mức đã
sử dụng vào quá trình sản xuất kinh doanh. Lợi tức là một phần của lợi nhuận
được biểu hiện bên ngoài như “giá cả” của tiền tệ.
Lãi suất cho vay cụ thể do khách hàng và ngân hàng thoã thuận, có thể
áp dụng lãi suất cho vay cố định trong suốt thời gian vay vốn hoặc lãi suất cho vay
có điều chỉnh.(theo định kỳ hay thông báo của ngân hàng).
1.1.2.7. Quy trình cho vay.
Khách hàng (7) Phòng Ngân Quỹ
(1) (8) (5) (6)
Cán bộ tín dụng P. Kế toán
(2)
Trưởng phòng QHKH (4c) (4b) Giám đốc
(3
Phó GĐ tín dụng
Trang 9
(4a)
Sơ đồ 1: QUY TRÌNH LUÂN CHUYỂN HỒ SƠ VAY VỐN
Bước 1: Khi khách hàng có nhu cầu vay vốn, khách hàng trực tiếp đến gặp
cán bộ tín dụng để trình bày nhu cầu, mục đích và phương án sản xuất kinh doanh.
Sau đó cán bộ xem xét tiến hành thẩm định phương án sản xuất kinh doanh của
khách hàng, nếu khả thi thì hướng dẫn lập hồ sơ vay vốn.
Bước 2: Sau khi xem xét và ký duyệt hồ sơ, cán bộ tín dụng trình hồ sơ
cho Trưởng, (Phó) Phòng QHKH duyệt lại.
Bước 3: Nếu có vấn đề cần bổ sung hay sai sót, Trưởng (Phó) Phòng
QHKH yêu cầu cán bộ tín dụng điều chỉnh sau đó trình lên Phó Giám đốc phụ
trách tín dụng phê duyệt.
Bước 4a: Sau khi nhận hồ sơ từ Trưởng (Phó) phòng QHKH phó Giám đốc
phụ trách tín dụng xem xét các yếu tố trong hồ sơ và xét duyệt cho vay với số tiền,
thời hạn ghi trên hợp đồng tín dụng. Nếu trên mức phán quyết thì chuyển hồ sơ
đến Giám đốc hoặc đưa ra hội đồng tín dụng xem xét.
Bước 4b: Sau khi Giám đốc đã xem xét duyệt hồ sơ thì chuyển hồ sơ về
cho cán bộ tín dụng. Giám đốc phê duyệt hồ sơ khi phó giám đốc đi công tác.
Bước 4c: Cán bộ tín dụng giữ lại giấy tờ cần thiết , còn những giấy tờ
không cần thiết thì trả lại cho khách hàng.
Bước 5: Cán bộ tín dụng gửi hồ sơ đến Phòng Kế Toán
Bước 6: Khi nhận hồ sơ từ cán bộ tín dụng thì bộ phận Kế toán có trách
nhiệm lưu giữ hồ sơ, mở sổ lưu cho vay. Làm thủ tục phát tiền, chuyển hồ sơ đến
bộ phận Ngân quỹ nếu khách hàng yêu cầu rút tiền mặt.
Bước 7: Bộ phận ngân quỹ nhận phiếu chi kèm đơn xin vay vốn và làm thủ
tục giải ngân, phát tiền vay cho khách hàng.
Bước 8: Cán bộ tín dụng sẽ kiểm tra quá trình sử dụng vốn vay của khách
hàng bao gồm:
Trang 10
- Kiểm tra sử dụng vốn vay của khách, đôn đốc khách hàng trả lãi và nợ vay đúng
hạn.
- Gia hạn nợ và điều chỉnh kỳ hạn nợ nếu khách hàng yêu cầu và đủ điều kện theo
quy định.
- Thanh lý, giải chấp khi hợp đồng chấm dứt.
1.1.3. Những vấn đề về tín dụng trung và dài hạn
1.1.3.1. Khái niệm:
Tín dụng trung và dài hạn là khoản vay trên nguyên tắc hoàn trả gốc và lãi
có thời hạn vay trên 1 năm. Mục đích hỗ trợ khách hàng mở rộng sản xuất - kinh
doanh, phát triển cơ sở hạ tầng, mua sắm thiết bị sản xuất, thành lập doanh nghiệp
mới, tài trợ dự án, xây dựng nhà ở, thiết bị, phương tiện vận tải quy mô lớn…
- Vay trung hạn: khoản vay có thời hạn trên 12 tháng tới 60 tháng.
- Cho vay dài hạn: có các khoản vay trên 60 tháng.
1.1.3.2. Đặc điểm:
Việc đầu tư tín dụng trung – dài hạn có các đặc điểm cơ bản sau:
- Trong hình thức này người cho vay là các Ngân hàng thương mại, các tổ
chức tín dụng và người div ay là các cá nhân, doanh nghiệp, thành phần kinh tế xã
hội…nhằm phục vụ sản xuất kinh doanh.
- Cho vay dưới hình thái huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế
để cho vay lại đối với những khách hang có nhu cầu về vốn.
- Quá trình phát triển của tín dụng trung – dài hạn phụ thuộc vào tình
hình biến động của thị trường, vào quy mô sản xuất và lưu thông hàng hóa của xã
hội…
Nhìn chung nguồn vốn tín dụng trung và dài hạn của Ngân hàng có quy mô
lớn và thời hạn dài nên đây là nhân tố quan trọng thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
1.1.3.3. Vai trò tín dụng trung và dài hạn
a) Đối với nền kinh tế:
Trang 11
- Đảm bảo phát triển kinh tế theo chiều sâu: Nhu cầu về tín dụng đặc biệt
là tín dụng trung và dài hạn tồn tại trong tất cả nền kinh tế, không phụ thuộc vào
trình độ phát triển cũng như chế độ chính trị xã hội vì tất cả các quốc gia đều có
nhu cầu chung về đầu tư phát triển.
- Thúc đẩy phát triển kinh tế phù hợp với mục tiêu của chính phủ: trong
điều kiện nước ta đang đi vào CNH-HĐH thì tín dụng trung dài hạn đóng vai trò
quyết định vì thị trường vốn nước ta đang hạn chế và gặp nhiều khó khăn.Như vậy
chính sách tín dụng trong từng thời kỳ có thể tham gia vào quá trình chuyển dịch
cơ cấu kinh tế.
- Tạo thị trường sử dụng vốn ngắn hạn: Tín dụng trung dài hạn đầu tư
cho các máy móc thiết bị, xây dựng cơ bản của các doanh nghiệp sẽ kích thích sản
xuất phát triển. Khi đó nhu cầu vốn lưu động sẽ tăng cao để phục vụ nhu cầu sản
xuất. Tốc độ sản xuất càng lớn thì nhu cầu sử dụng vốn ngắn hạn càng lớn.
- Thúc đẩy kim ngạch xuất nhập khẩu: Nhờ vào tín dụng trung- dài hạn
mà các doanh nghiệp có thể nhập khẩu công nghệ mới từ đó nâng cao được năng
lực sản xuất và chất lượng sản phẩm được thị trường quốc tế chấp nhận. Thị
trường của doanh nghiệp mở rộng ra thị trường quốc tế góp phần tăng kim ngạch
xuất nhập khẩu.
- Đảm bảo nguồn thu vững chắc cho Ngân sách nhà nước: Thuế là nguồn
thu chủ yếu của ngân sách. Khối lượng sản phẩm lớn được sản xuất và tiêu thụ tảo
ra nguồn thu lớn như: Thuế VAT, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu…
Trong trường hợp xuất khẩu thì chúng ta sẽ thu được một nguồn ngoại tệ đáp ứng
nhu cầu nhập khẩu.
b) Đối với Ngân hàng:
Ngân hàng là một lĩnh vực chuyên kinh doanh tiền tệ, nhận gửi và huy động
các nguồn tài chính nhằm mục tiêu vì lợi nhuận. Vì vậy Ngân hang luôn quan tâm
đến các dự án mang lợi nhuận cao, hơn thế nữa ngày nay sản phẩm ngân hàng
cung ứng với các nghiệp vụ ngày càng đa dạng. Mà các nghiệp vụ này chiếm tỷ
trọng cao trong cơ cấu lợi nhuận của ngân hàng.Một trong những khách hàng
Trang 12
chính của nghiệp vụ này chính là khách hàng doanh nghiệp. Do đó để tạo được
mối quan hệ lâu dài, cũng như thị trường sinh lời chính của mình, ngân hàng sử
dụng công cụ tín dụng trung – dài hạn như một công cụ thu hút, ưu đãi khách
hàng, không những thu được lợi nhuận từ cấp tín dụng cho khách hàng mà còn
đem lại lợi nhuận từ những dịch vụ khác mang lại. Hơn nữa năng lực cung cấp tín
dụng trung dài hạn chứng tỏ ngân hàng có được niềm tin lớn từ khách hàng trong
giai đoạn cạnh tranh gay gắt.
c) Đối với doanh nghiệp:
Trong giai đoạn các doanh nghiệp phải chịu sức ép, thì nhu cầu đầu tư tái
mở rộng sản xuất, tăng khả năng sản xuất phát triển thị trường, nâng cao chất
lượng sản phẩm mới đảm bảo được tồn tại và phát triển lâu dài được. Đối với tất
cả các dự án trên các doanh nghiệp phải cần một nguồn vốn khá lớn, tối ưu nhất
chính là vốn tín dụng trung và dài hạn mới có thể đáp ứng được nhu cầu này của
doanh nghiệp. Nó giúp cho doanh nghiệp yên tâm hơn trong việc đầu tư những dự
án lớn, hiệu quả cao. An toàn về tài chính và khả năng thanh khoản là mối quan
tâm tứ nhiều phía mà đặc biệt là doanh nghiệp. Vì vậy tín dụng trung dài hạn có
vai trò rất quan trọng đối với các doanh nghiệp trong nền kinh tế.
Ngoài ra tín dụng trung và dài hạn còn mang ý nghĩa rất lớn đối với các cá nhân
trong xã hội và trong toàn bộ nền kinh tế. Sản xuất phát triển các doanh nghiệp có
vốn mở rộng sản xuất, tích lũy trong xã hội tăng lên, nền kinh tế xã hội biến đổi về
chất, phúc lợi xã hội được đảm bảo, việc làm được tạo ra ngày càng nhiều, tỷ lệ
thất nghiệp giảm đi đôi với chất lượng cuộc sống tăng lên của các tầng lớp trong
xã hội.
1. 1.4. Rủi ro tín dụng
1.1.4.1. Rủi ro tín dụng
Là rủi ro do một hoặc một nhóm khách hang không thực hiện được các
nghĩa vụ tài chính đối với ngân hang. Hay nói cách khác, rùi ro tín dụng là rủi ro
xảy ra khi xuất hiện những biến cố không lường trước được do những nguyên
nhân chủ quan hay khách quan mà khách hàng không trả được nợ cho nân hàng
Trang 13
một cách đầy đủ cả gốc và lãi khi đến hạn, từ đó tác động xấu đến hoạt động của
ngân hàng và có thể làm cho ngân hàng bị phá sản.
1.1.4.2. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro
- Nguyên nhân khách quan:
Khi khách hàng nhận khoản giải ngân từ ngân hàng, họ sẽ dùng đồng vốn
vào mục đích kinh doanh như: Đầu tư vào dây chuyền sản xuất, đầu tư mua
nguyên vật liệu…Trong quá trình sản xuất kinh doanh tất yếu sẽ phát sinh những
rủi ro không mong muốn mà đôi khi các doanh nghiệp không lường trước được
như:
+ Rủi ro do nền kinh tế không ổn định.
+ Rủi ro do các thủ tục pháp lý ở các địa phương còn rườm rà.
+ Rủi ro do thị trường bị bóp méo bởi hàng hóa nhập lậu.
- Nguyên nhân chủ quan:
Rủi ro chủ quan đến từ cả hai phía là Ngân hàng và Doanh nghiệp đi vay:
• Đối với Ngân hàng:
Rủi ro tín dụng sẽ có tác động trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh
doanh của ngân hàng như: thiếu tiền chi trả cho khách hàng, vì phần lớn nguồn
vốn hoạt động của ngân hàng là vốn huy dộng. Do đó, ngân hàng không thu hồi
được nợ gố và lãi trong cho vay thì khả năng thanh toán của ngân hàng dần dần
lâm vào tình trạng thiếu hụt.
Vì vậy, rủi ro tín dụng sẽ làm cho ngân hàng mất cân đối trong việc thanh toán,
dẫn đến thua lỗ và có nguy cơ bị phá sản.
• Đối với doanh nghiệp:
Trang 14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét