LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "giải pháp nhằm đẩy mạnh hoat động kinh doanh nhập khẩu ở công ty máy và phụ tùng _ machinoimport": http://123doc.vn/document/1054165-giai-phap-nham-day-manh-hoat-dong-kinh-doanh-nhap-khau-o-cong-ty-may-va-phu-tung-machinoimport.htm
doanh nghiệp như các chức năng: sản xuất, marketing, tài chính, kế toán…,
ngược lại hoạt động của những doanh nghiệp này cũng có những tác động tích
cực đến môi trường nhằm thích ứng với sự thay đổi của môi trường.
2>.Vai trò của nhập khẩu.
Nhập khẩu là một hoạt động quan trọng của ngoại thương. Nhập khẩu tác
động một cách trực tiếp và quyết định đến sản xuất và đời sống trong nước.
Nhập khẩu để bổ sung các hàng hoá mà trong nước không sản xuất được,
hoặc sản xuất không đáp ứng đủ nhu cầu. Nhập khẩu còn để thay thế, nghĩa là
nhập khẩu về những hàng hoá mà sản xuất trong nước sẽ không có lợi bằng
nhập khẩu. Hai mặt nhập khẩu bổ sung và nhập khẩu thay thế nếu được thực
hiện tốt sẽ tác động tích cực đến sự phát triển cân đối nền kinh tế quốc dân,
trong đó cân đối trực tiếp ba yếu tố của sản xuất: công cụ lao động, đối tượng
lao động và lao động. Trong điều kiện kinh tế nước ta hiện nay, vai trò quan
trọng của nhập khẩu được thể hiện ở các khía cạnh sau đây:
Tạo điều kiện thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước.
Bổ sung kịp thời những mặt mất cân đối của nền kinh tế, đảm bảo
phát triển kinh tế cân đối và ổn định.
Nhập khẩu góp phần cải thiện và nâng cao mức sống của nhân dân. ở
đây, nhập khẩu vừa thoả mãn nhu cầu trực tiếp của nhân dân về hàng tiêu
dùng, vừa đảm bảo đầu vào cho sản xuất, vừa tạo việc làm ổn định cho
người lao động.
Nhập khẩu có vai trò tích cực đến thúc đẩy xuất khẩu. Sự tác động
này thể hiện ở chỗ nhập khẩu tạo đầu vào cho quá trình sản xuất hàng xuất
khẩu, tạo điều kiện thuận lợi cho việc xuất khẩu hàng Việt Nam ra nước
ngoài, đặc biệt là nước nhập khẩu.
3>. Sự cần thiết đẩy mạnh kinh doanh nhập khẩu hàng hoá.
5
Loài người đã trải qua những ngày tháng cuối của thế kỷ XX và bước
vào thế kỷ XXI đầy hứa hẹn. Đối với Việt Nam giai đoạn này có ý nghĩa
quan trọng trong công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước nhằm
đưa đất nước thoát khỏi tình trạng đói nghèo, đồng thời tạo điều kiện cho sự
phát triển đất nước, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng,dân chủ, văn minh đúng như Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã
khẳng định.
Từ năm 1986 đến nay, chính sách đổi mới đã thực sự thổi một luồng
gió mới vào kinh tế Việt Nam. Và sau gần 20 năm kinh tế Việt Nam đã đạt
được những thành tưụ vô cùng to lớn. Việt Nam đã nhập được một số lượng
đáng kể máy móc, thiết bị, phụ tùng cho các nghành công nghiệp nặng, năng
lượng, hoá chất, giao thông vận tải, bưu chính viễn thông Tuy nhiên nhập
khẩu chỉ phát huy tác dụng khi chiến lược nhập khẩu phù hợp với chiến lược
công nghiệp hoá - hiện đại hoá sao cho các máy móc thiết bị, các công trình
khoa học công nghệ vừa thích ứng với điều kiện kinh tế xã hội đất nước vừa
phù hợp với xu thế phát triển của thế giới. Việt Nam hiện nay cần nhập khẩu
máy móc thiết bị với công nghệ ở nhiều trình độ khác nhau, kiên quyết không
nhập công nghệ lạc hậu, không để Việt Nam trở thành bãi rác công nghiệp.
Nhập khẩu máy và phụ tùng là một trong những phương tiện để phát
triển khoa học kỹ thuật. Nhập khẩu máy và phụ tùng giúp ta tranh thủ được
các thành tựu khoa học kỹ thuật tiến của thế giới mà ta chưa nghiên cứu được
nhờ đó tiết kiệm được chi phí về vốn, thời gian và chất xám của đội ngũ cán
bộ khoa học kỹ thuật mà nhiều khi chi phí bỏ ra cho hoạt động này rất lớn
nhưng không mang lại hiệu quả.
Bên cạnh đó, nhập khẩu máy và phụ tùng cũng góp phần vào việc
chuyên môn hoá nghiên cứu khoa học cho những lĩnh vực mà nước ta có thế
mạnh. Với mục đích là đạt đựơc trình độ khoa học kỹ thuật hiện đại, nhập
khẩu máy và phụ tùng tiên tiến sẽ nâng cao hiệu quả sản xuất, tăng năng suất
lao động, tăng tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân. Ngoài ra, nhập
6
khẩu máy và phụ tùng còn góp phần phát triển các nhà máy lắp ráp, nâng cao
hạ tầng cơ sở vật chất cho ngành công nghiệp, tạo công ăn việc làm cho người
lao động giải quyết nạn thất nghiệp.
Song song với việc nhập khẩu máy và phụ tùng hiện đại, đội ngũ cán
bộ kỹ thuật và công nhân nước ta sẽ tiếp thu được những kiến thức kỹ thuật
mới. Điều này góp phần nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ khoa học kỹ
thuật trong nước, dần đưa họ tiếp cận với thế giới khoa học hiện đại.
Tuy mới chỉ trong một thời gian ngắn nhưng hoạt động nhập khẩu
máy và phụ tùng đã phát huy được vai trò to lớn, đổi mới trang thiêt bị máy
móc, tạo ra một thị trường hàng hoá phong phú, đa dạng từng bước đáp ứng
nhu cầu tiêu dùng trong nước và đã xuất khẩu được một số hàng hoá, nâng
cao đời sống nhân dân. Điều này thúc đẩy Việt Nam nhập khẩu những máy
móc thiết bị hiện đại hơn, giúp nền kinh tế còn bỡ ngỡ trước làn sóng đổi mới,
hoà nhập vào nền kinh tế thế giới. Chính việc nhập khẩu này quay trở lại tác
động đến nền sản xuất trong nước sản xuất ra hàng hoá có chất lượng tốt hơn,
có tính cạnh tranh cao hơn và khả năng xuất khẩu hàng Việt nam được nâng
cao. Thực tế đã chứng minh rõ ràng tính ưu việt cũng như khẳng định vai trò
của hoạt động nhập khẩu máy và phụ tùng trong quá trình công nghiệp hoá -
hiện đại hoá của nước ta.
II>.CÁC PHƯƠNG THỨC NHẬP KHẨU CHỦ YẾU.
1>.Nhập khẩu uỷ thác.
Nhập khẩu uỷ thác là hoạt động hình thành giữa một doanh nghiệp
trong nước có vốn ngoại tệ riêng và có nhu cầu muốn nhập khẩu một số loại
hàng hoá nhưng lại không có quyền tham gia các hoạt động nhập khẩu trực
tiếp đã uỷ thác cho một doanh nghiệp khác làm nhiệm vụ giao dịch trực tiếp
và tiến hành nhập khẩu hàng hóa theo yêu cầu của mình. Bên uỷ thác phải
tiến hành đàm phán với đối tác nước ngoài và làm thủ tục nhập hàng hoá theo
7
yêu cầu của bên uỷ thác. Bên nhận ủy thác sẽ được hưởng một phần thù lao
được gọi là phí uỷ thác.
2>. Nhập khẩu trực tiếp.
Hoạt động nhập khẩu trực tiếp là hoạt động nhập khẩu độc lập của một
doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu trên cơ sở nghiên cứu kỹ thị trường trong
nước và quốc tế, tính toán chính xác các chi phí, đảm bảo hiệu quả kinh
doanh nhập khẩu, tuân thủ đúng chính sách, luật pháp quốc gia và luật pháp
quốc tế. Trong hình thức này, doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu phải trực
tiếp làm các hoạt động tìm kiếm đối tác, đàm phán, ký kết hợp đồng và phải
bỏ vốn để tổ chức kinh doanh hàng nhập khẩu.
3>. Nhập khẩu liên doanh.
Nhập khẩu liên doanh là hoạt động kinh doanh nhập khẩu hàng hoá trên
cơ sở liên kết kinh tế một cách tự nguyện giữa các doanh nghiệp trong đó ít
nhất một bên là doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu trực tiếp nhằm phối hợp
kỹ năng để cùng giao dịch và đề ra các chủ trương, biện pháp có liên quan
đến hoạt động kinh doanh nhập khẩu, hướng hoạt động này sao cho có lợi
nhất cho tất cả các bên, cùng chia lợi nhuận và cùng chịu lỗ.
4>.Nhập khẩu hàng đổi hàng.
Nhập khẩu đổi hàng cùng trao đổi bù trừ là hai loại nghiệp vụ chủ yếu
của buôn bán đối lưu, đó là hình thức nhập khẩu đi đôi với xuất khẩu. Thanh
toán cho hoạt động này không dùng tiền mà là hàng hóa. Mục đích của nhập
khẩu hàng đổi hàng là vừa thu lãi từ hoạt động kinh doanh nhập khẩu và vừa
xuất khẩu được hàng hoá trong nước ra nước ngoài.
5>. Nhập khẩu tái xuất.
Hoạt động nhập khẩu tái xuất là hoạt động nhập khẩu hàng hóa vào
trong nước nhưng không phải để tiêu thụ trong nước mà để xuất sang một
nước thứ ba để thu lợi nhuận, những mặt hàng này không được qua chế biến ở
nơi tái xuất. Như vậy trong hình thức này có sự tham gia của ít nhất ba quốc
8
gia: nước xuất khẩu hàng hóa, nước nhập khẩu hàng hoá để tái xuất, nước
nhập khẩu hàng đã được tái xuất.
6>.Nhập khẩu hàng hoá.
Nói đến thương mại quốc tế không thể không nói đến xuất nhập khẩu
hàng hóa và dịch vụ vì đây là nội dung quan trọng và cốt lõi của nó. Kinh
doanh nhập khẩu là một bộ phận cấu thành của kinh doanh xuất nhập khẩu
nói chung. Nếu như trong kinh doanh xuất nhập khẩu, hành vi mua bán trao
đổi hàng hoá-tiền tệ diễn ra theo hai chiều thì trong nhập khẩu sự vận động
của hàng hóa-tiền tệ chỉ diễn ra theo một chiều: hàng vào-tiền ra. Tuy vậy, nó
là hoạt động kinh doanh trên phạm vi quốc tế, không phải là hành vi mua bán
riêng lẻ mà là cả một hệ thống các quan hệ mua bán phức tạp, có tổ chức.
Những quy định và luật lệ ràng buộc người mua và kẻ bán nhằm mục tiêu lợi
nhuận, thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển, chuyển đổi cơ cấu kinh tế bằng
cách thoả mãn ngày càng cao nhu cầu tiêu dùng của dân cư trong nước, nhất
là những loại hàng hoá mà sản xuất trong nước chưa đáp ứng được nhu cầu
người tịêu dùng.
7>.Nhập khẩu vật tư thiết bị.
Việc nhập khẩu thiết bị máy móc và nhận chuyển giao công nghệ, kể cả
thiết bị theo con đường đầu tư hay viện trợ đều phải nắm vững phương thức
đón đầu. Nhập phảỉ có chọn lọc, tránh nhập những loại thiết bị, công nghệ lạc
hậu các nước đang tìm cách thảI ra. Nhất thiết không vì mục tiêu tiết kiệm mà
nhập các thiết bị cũ, chưa dùng được bao lâu, chưa đủ sinh lợi đã phải thay
thế.
III>. NỘI DUNG HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU.
1>.Nghiên cứu thị trường.
1.1>. Nghiên cứu mặt hàng nhập khẩu.
Nhận biết mặt hàng để nhập khẩu trước tiên phải dựa vào nhu cầu của
sản xuất và tiêu dùng về quy cách, chủng loại, kích cỡ, giá cả, thời vụ và các
9
thị hiếu cũng như tập quán tiêu dùng của từng vùng, từng lĩnh vực sản xuất.
Phải hiểu rõ giá trị, công dụng các đặc tính của hàng hoá, từ đó xem xét các
khía cạnh của hàng hoá trên thị trường thế giới về quy cách, phẩm chất, mẫu
mã. Đối với các doanh nghiệp sản xuất vật tư phục vụ sản xuất, điểm đầu tiên
để xác định mặt hàng là dựa trên các tiêu chuẩn kỹ thuật, dựa trên chất lượng
sản phẩm hàng hoá. Nắm bắt đầy đủ các mức giá cho từng điều kiện mua bán,
kả năng sản xuất và nguồn cung ứng dịch vụ đi kèm bảo đảm cho hàng hóa
như: bảo hành, sửa chữa, cung ứng các thiết bị phụ tùng thay thế
Để lựa chọn được mặt hàng kinh doanh, một số nhân tố quan trọng là
phải tinh đợc tỷ suất ngoại tệ nhập khẩu của mặt hàng đó. Nếu tỷ suất ngoại tệ
nhập khẩu cao hơn tỷ giấ hối đoái trên thị trường thế giới thì việc lựa chọn
mặt hàng là có hiệu quả. Ngoài ra nhà nhập khẩu còn phải dựa vào những
kinh nghiệm ngoài thị trường để có thể dự đoán được các biến động trong thị
trường nước ngoài cũng như trong nước và khả năng thương lượng để đạt
được các điều kiện mua bán có ưu thế hơn.
1.2>. Nghiên cứu dung lượng thị trường
Dung lượng thị trường là khối lượng hàng hoá được giao dịch trên
phạm vi một thị trường nhất định trong một phạm vi nhất định. Nghiên cứu
dung lượng thị trường cần phải xác định nhu cầu thật của khách hàng, kể cả
lượng dự trữ, xu hướng biến động của nhu cầu trong từng thời điểm, các
vùng, các khu vực có nhu cầu lớn và đặc điểm nhu cầu trong từng thời điểm,
từng lĩnh vực sản xuất, tiêu dùng. Cùng với việc nắm bắt nhu cầu, việc nắm
bắt khả năng cung cấp cho thị trường phải xét đến đặc điểm, tính chất, khả
năng sản xuất hàng hoá thay thế, khả năng lựa chọn trong việc mua sắm để
thoả mãn nhu cầu.
Một vấn đề cũng được quan tâm trong khâu này là tính thời vụ của sản
xuất(cung) và tiêu dùng(cầu) hàng hoá đó trên thị trường thế giới để có biện
pháp thích hợp cho từng giai đoạn, bảo đảm nhập khẩu có hiệu quả. Dung
lượng thị trường không cố định, nó thay đổi do tác động tổng hợp của nhiều
10
nhân tố trong những giai đoạn nhất định. Các nhân tố làm cho dung lượng thị
trường thay đổi có thể chia làm 3 loại căn cứ vào thời gian ảnh hưởng của
chúng đối với thị trường.
1.3>. Lựa chọn đối tác.
Xét về tính chất và mục đích hoạt động, khách hàng trong thương mại
quốc tế được chia làm 3 loại:
- Các hãng hay công ty.
- Các liên đoàn kinh doanh.
- Các cơ quan nhà nước.
Đối tượng giao dịch rất quan trọng trong kinh doanh nhập khẩu, việc
lưa chọn phải tiến hành một cách cẩn thận, kỹ lưỡng nhất là trong điều kiện
giao lưu quốc tế mở rộng, thông tin nhanh nhạy từ nhiều nguồn Thường khi
lựa chọn đối tác giao dịch, người ta dựa trên những cơ sở sau:
- Tình hình kinh doanh của doanh nghiệp, lĩnh vực và phạm vi kinh
doanh, khả năng cung cấp hàng hoá lâu dài, thường xuyên, kịp thời.
- Khả năng về vốn, cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp.
- Thái độ và quan điểm kinh doanh của doanh nghiệp( chiếm lĩnh thị
trường hay độc quyền, những quan điểm về mua bán với bạn hàng).
- Uy tín của doanh nghiệp đó trong kinh doanh.
Trong lựa chọn đối tác giao dịch tốt hơn hết là nên chọn đối tác trực
tiếp, tránh những đối tác trung gian trừ khi doanh nghiệp muốn thâm nhập
vào thị trường mới mà mình chưa có kinh nghiệm. Việc lựa chọn đối tác giao
dịch có căn cứ khoa học là điều kiện quan trọng để thực hiện thắng lợi các
hoạt động kinh doanh trong thương mại quốc tế.
1.4>. Xác định nhu cầu cụ thể về lượng hàng hoá cần nhập.
Doanh nghiệp thường xác định lượng hàng hoá nhập tối ưu dựa trên cơ
sở tối ưu hoá về giá trị sử dụng và gía trị tức là hàng hoá vừa có chất lượng tốt
vừa có giá phải chăng.
11
Như đã biết nếu xét về chi phí vận chuyển, lượng hàng đặt mua một lần
lớn thì chi phí thu mua vận chuyển tính cho một đơn vị hàng càng ít và ngược
lại. Nhưng lượng hàng đặt mua một lần càng lớn thì chi phí bảo quản lô hàng
đó càng cao. Vì thế, vấn đề đặt ra cho các doanh nghiệp là đặt mua bao nhiêu
hàng một lần để tối ưu chi phí vận chuyển và chi phí bảo quản lô hàng đó?
Để trả lời câu hỏi này, các nhà kinh tế đã đưa ra công thức tính lượng
đặt hàng tối ưu như sau:
Gọi N là nhu cầu nhập khẩu hàng hoá hàng năm.
D là lượng đặt hàng của mỗi đơn hàng.
C là toàn bộ chi phí cho lô hàng.
C
1
là phần chi phí vận chuyển cố định cho lô hàng đặt mua.
C
2
là chi phí bảo quản một đơn vị hàng lưu kho trong một năm.
Ta có:
N D
C = C
1
* + C
2
*
D 2
Tối thiểu hoá chi phí ta tính được lượng hàng của mỗi đơn hàng:
D = 2 ∗ C
1
∗ N
C
2
2>. Nghiên cứu giá cả hàng nhập khẩu.
Gía cả là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa, đồng thời biểu hiện
một cách tổng hợp các hoạt động kinh tế, các mối quan hệ trong nền kinh tế
quốc dân như quan hệ cung cầu về hàng hóa. Gía cả luôn gắn liền với thị
trường, nó biến động và chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố. Đặc biệt trong
buôn bán quốc tế, giá cả hàng hóa bao gồm giá vốn hàng hoá, bao bì, chi phí
vận chuyển, chi phí bảo hiểm, xếp dỡ, các chi phí khác tuỳ theo thoả thuận
của các bên tham gia. Giá cả thị trường càng trở nên phức tạp trong thương
12
mại quốc tế vì việc mua bán diễn ra giữa các nước khác nhau, trong thời gian
dài, hàng phải vận chuyển qua nhiều nước Gía quốc tế do quan hệ cung cầu
thế giới quyết định không kèm theo điều kiện. Người ta chia cách xác định giá
hàng theo 3 nhóm:
Đối với những sản phẩm trên thị trường quốc tế có những trung tâm
buôn bán lớn như cà phê hạt ở New York, London, cao su nguyên liệu, lông
thú, kim loại màu khi nghiên cứu gía ta có thể tham khảo giá của các trung
tâm này.
Đối với những sản phẩm không có trung tâm buôn bán lớn như gạo,
bông nên căn cứ vào giá của các nước sản xuất.
Đối với những hàng hoá là thiết bị nên lấy gía của các nước sản xuất để
tham khảo.
Do vậy, để đạt được hiệu quả trong kinh doanh thương mại quốc tế, các
nước nhập khẩu phải nẵm được giá cả và xu hướng vận động của nó trên thị
trường quốc tế để có biện pháp tính toán một cách khoa học, chính xác. Muốn
vậy, người nhập khẩu phải nắm được các nhân tố ảnh hưởng đến gía cả và xu
hướng vận động của chúng.
3>.Xác định mức giá nhập khẩu.
Việc xác định mức giá là điều kiện tối quan trọng quyết định đến hiệu
quả kinh doanh. Xác định mức giá nhập khẩu phải thông qua việc xác định
đồng tiền tính giá, cơ sở tính giá, phương pháp quy định giá và việc giảm giá.
- Đồng tiền tính giá: có thể dùng đồng tiền nước xuất khẩu hoặc đồng tiền
nước nhập khẩu hoặc đồng tiền nước thứ ba nhưng điều căn bản là đồng
tiền đó phải là đồng tiền mạnh, ổn định và có thể tự do chuyển đổi. Nó
được lựa chọn theo sự thoả thuận của hai bên và được ghi vào hợp
đồng.
- Cơ sở định giá: Tuỳ theo điều kiện giao hàng và phương thức giao hàng
trong hợp đồng mua bán mà giá có thể được tính theo các mức khác
nhau: EXW, FOB, CIF
13
- Phương pháp quy định giá: gía có thể được xác định ngay khi ký hợp
đồng, cũng có thể xác định trong thời gian hợp đồng có hiệu lực. Thông
thường có 4 phương pháp định giá. Đó là:
+ Giá cố định: là giá quy định lúc ký kết hợp đồng và không
được sửa đổi trong quá trình thực hiện hợp đồng, thường được sử dụng
trong các hợp đồng có thời hạn giao hàng ngắn( phổ biến trong các hợp
đồng nhập khẩu của nước ta hiện nay).
+ Giá qui định sau: là giá được quy định trong quá trình thực
hiện hợp đồng. Loại này áp dụng cho các hợp đồng dài hạn.
+ Giá có thể điều chỉnh: là gía xác định trong lúc ký hợp đồng
nhưng có thể được điều chỉnh lại nếu giá có biến động đến mức đã định
trước. Gía này áp dụng nhằm giảm bớt thiệt hại cho các nhà kinh doanh
khi có biến động lớn về giá trên thị trường.
+ Giá di động hay trượt giá: Giá được tính toán dứt khoát vào
lúc thực hiện hợp đồng trên cơ sở định gía ban đầu có đề cập tới những
biến động của chi phí sản xuất trong thời gian thực hiện hợp đồng. Loại
giá này được áp dụng trong hợp đồng dài hạn đối với hàng hoá là máy
móc thiết bị, dây chuyền sản xuất
+ Giảm giá: Thường được áp dụng trong buôn bán quốc tế nhằm
khuyến khích hoạt động bán hàng, người mua cần nắm vững và khai
thác triệt để yếu tố này. Doanh nghiệp có thể thực hiện giảm giá cho các
khách hàng mua với khối lượng lớn hoặc trả tiền sớm hoặc khách hàng
đã có quan hệ công tác lâu dài với doanh nghiệp hoặc theo thời vụ
4>.Lập phương án kinh doanh nhập khẩu hàng hoá.
Từ kết quả thu được trong quá trình nghiên cứu thị trường, tiếp cận đối
tượng giao dịch, mặt hàng, giá cả trong nước và quốc tế, đơn vị kinh doanh sẽ
lập phương án kinh doanh. Phương án kinh doanh giúp đơn vị kinh doanh đạt
được mục tiêu đã đề ra trong hoạt động kinh doanh nhập khẩu, gồm các bước
sau:
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét