Thứ Bảy, 19 tháng 4, 2014

nghệ thuật đồng hiện trong bộ ba tác phẩm xứ tuyết, ngàn cánh hạc, cố đô của yasunari kawabata


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "nghệ thuật đồng hiện trong bộ ba tác phẩm xứ tuyết, ngàn cánh hạc, cố đô của yasunari kawabata": http://123doc.vn/document/1052822-nghe-thuat-dong-hien-trong-bo-ba-tac-pham-xu-tuyet-ngan-canh-hac-co-do-cua-yasunari-kawabata.htm


vật. Bộ ba tác phẩm Xứ tuyết, Ngàn cánh hạc, Cố đô của Kawabata đạt giải Nobel văn học năm
1968. Không tách rời với hoàn cảnh văn hóa- xã hội của Nhật Bản đương thời, những tác phẩm
của Kawabata giúp cho thế giới phương Tây có một nhận thức mới mẻ về một đất nước phương
Đông thuần khiết.
Trong điện ảnh, đồng hiện là kĩ thuật; trong văn học nghệ thuật, đồng hiện là một thủ
pháp. Những mảng kí ức sáng tối chồng lên nhau trong dòng suy tưởng miên man của nhân vật
làm cho kết cấu câu chuyện trở nên ấn tượng bởi các khuôn hình được sắp đặt. Nghệ thuật đồng
hiện đã trở thành thủ pháp đắc lực giúp Kawabata khai thác khía cạnh tâm lí của nhân vật.
Thông qua dòng ý thức, nơi mà trật tự tuyến tính của thời gian dễ dàng bị đảo ngược, một thế
giới nội tâm đầy tính bí ẩn đậm chất Á Đông được mở ra, hấp dẫn người đọc.
2.Phạm vi nghiên cứu
Đề tài này tập trung vào ba tác phẩm Xứ tuyết, Ngàn cánh hạc, Cố đô được lấy từ quyển
Yasunari Kawabata - tuyển tập tác phẩm (Trung tâm văn hóa Đông Tây NXB Lao động, Hà
Nội, 2005).
Trong quá trình nghiên cứu, tôi cũng đồng thời sử dụng thêm các tài liệu trên báo chí,
sách và internet về văn học nghệ thuật, văn hóa, lịch sử… có liên quan.
3.Ý nghĩa của đề tài
Về mặt khoa học, đóng góp của luận văn là vận dụng thi pháp hiện đại để khảo sát những
tín hiệu nghệ thuật thông qua hệ thống hình ảnh đồng hiện trong bộ ba tác phẩm Xứ tuyết, Ngàn
cánh hạc, Cố đô. Từ đó, góp phần vào quá trình tìm hiểu và xác định thi pháp tiểu thuyết của
Kawabata. Đồng thời, luận văn đưa ra một cách phân tích mới mẻ, góp phần vào việc giảng dạy
tác phẩm của Kawabata trong nhà trường phổ thông và đại học.
Đề tài này sẽ giúp người viết bổ sung kiến thức và có phương pháp làm việc khoa học,
làm cơ sở cho việc nghiên cứu phát triển đề tài “Nghệ thuật đồng hiện trong sáng tác của
Kawabata” trong tương lai.
4.Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích và tổng hợp
- Phương pháp logic biện chứng và phương pháp lịch sử
- Phương pháp liệt kê
- Phương pháp so sánh liên hệ
5.Lịch sử vấn đề
Trong bối cảnh các tác phẩm văn học Nhật Bản được dịch, xuất bản và trở thành những
hiện tượng gây chú ý đối với độc giả Việt Nam thì việc nghiên cứu văn học Nhật Bản trở thành
một nhu cầu thiết yếu.
Kawabata là nhà văn đầu tiên của Nhật Bản nhận giải thưởng Nobel văn học. Việc nghiên
cứu, tìm hiểu các tác phẩm của ông cũng đã được giới phê bình văn học chú ý. Những công
trình nghiên cứu về chân dung văn học Kawabata, giới thiệu tác phẩm và các chuyên luận phê
bình được giới thiệu tiêu biểu như: PGS Lưu Đức Trung với tập “Yasunari Kawabata cuộc đời
và tác phẩm” (Nhà xuất bản Giáo dục- 1997), Nhật Chiêu “Thế giới Kawabata Yasunari (hay là
cái đẹp: Hình và bóng) ”- Tạp chí văn học số 3/2000, Đào Thị Thu Hằng với “Văn hóa Nhật
Bản và Yasunari Kawabata”. Đây là những tài liệu mang tính khái quát định hướng tiếp cận
phong cách sáng tác của Kawabata.
Chuyên luận “Văn hóa Nhật Bản và Yasunari Kawabata” (Nhà xuất bản Giáo dục- 2007)
của tác giả Đào Thị Thu Hằng cũng đặt vấn đề điểm nhìn tường thuật và đi vào khảo sát thời
gian và không gian nghệ thuật. Trong cái nhìn khái quát, tác giả đã đưa ra nhìn nhận tổng quan
về không- thời gian trong toàn bộ các sáng tác của Kawabata, chứ chưa phải là tài liệu chuyên
sâu tìm hiểu về thủ pháp đồng hiện trong tương quan với dòng ý thức trong bộ ba tác phẩm Xứ
tuyết, Ngàn cánh hạc, Cố đô. Chuyên luận của Đào Thị Thu Hằng xem xét nghệ thuật kể
chuyện của Kawabata, trong đó không- thời gian nghệ thuật được phân tích một cách kĩ lưỡng.
Không gian nghệ thuật được chia ra thành không gian bối cảnh, không gian tâm tưởng- không
gian đồng hiện, không gian huyền ảo. Thời gian nghệ thuật bao gồm thời gian cốt truyện và thời
gian kí ức-
nỗi ám ảnh của quá khứ. Chuyên luận của Đào Thị Thu Hằng khái quát phạm trù
không gian và thời gian nghệ thuật và chủ yếu tập trung lấy dẫn chứng ở các tiểu thuyết tiêu
biểu “Tiếng rền của núi”, “Người đẹp say ngủ. Đó là những tác phẩm dòng ý thức nơi kĩ thuật
đồng hiện phát huy được sức mạnh tối đa. Như vậy, kĩ thuật đồng hiện của dòng ý thức trong bộ
ba tác phẩm Xứ tuyết, Ngàn cánh hạc, Cố đô chưa được đi sâu khai thác một cách chính thức và
hoàn chỉnh với tư cách là một thủ pháp đặc trưng trong phong cách nghệ thuật của Kawabata.
Theo Giáo sư Lê Huy Bắc (“Đồng hiện trong văn xuôi”- Tạp chí văn học số 6- 1996): “Đồng
hiện được dùng để gọi tên một hiện tượng mà ở đó các không- thời gian quá khứ, hiện tại và
tương lai được tái hiện trong cùng một lúc” [5, tr.45]. Cung cấp một cái nhìn khái quát về thuật
ngữ đồng hiện, tác giả cũng đồng thời khẳng định “đồng hiện trong văn xuôi gắn với độc thoại
nội tâm và dòng ý thức” [5, tr.49]. Đào Thị Thu Hằng trong “Yasunari Kawabata giữa dòng
chảy Đông- Tây” (Nghiên cứu văn học số 7- 2005) cũng chỉ ra: Dòng ý thức là một trong những
khuynh hướng văn học tiêu biểu của thế kỉ XX, chủ yếu là hướng tới tái hiện đời sống nội tâm,
cảm xúc, và liên tưởng tự do của con người [17, tr.94]. Trong “150 thuật ngữ văn học” (Nhà
xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 1999) tác giả Lại Nguyên Ân cũng có cùng quan điểm:
“Dòng ý thức- một xu hướng sáng tạo văn học (chủ yếu là văn xuôi nghệ thuật) ở thế kỉ XX, tái
hiện trực tiếp đời sống nội tâm, những xúc cảm, những liên tưởng ở con người”, “Dòng ý thức”
là mức tới hạn, là dạng cực đoan của độc thoại nội tâm”[3, tr.120-121]. Đây là những cơ sở
khoa học để triển khai vấn đề nghệ thuật đồng hiện trong bộ ba tiểu thuyết Xứ tuyết, Ngàn cánh
hạc, Cố đô của Kawabata.
Luận văn này lần đầu tiên đi sâu và trực tiếp vào tìm hiểu vấn đề thủ pháp đồng hiện xuất
hiện một cách thường xuyên, có hệ thống với tư cách là một kí hiệu nghệ thuật trong bộ ba tác
phẩm Xứ tuyết, Ngàn cánh hạc, Cố đô. Trong luận văn, không gian, thời gian nghệ thuật được
trình bày, phân tích một cách cụ thể trong tương quan với dòng ý thức của nhân vật nhằm làm
rõ phong cách sáng tác của Kawabata qua kĩ thuật dòng ý thức mà Kawabata sử dụng. Đồng
thời, luận văn sẽ gọi tên một cách cụ thể những các trường hợp đồng hiện. Đồng hiện không chỉ
thể hiện qua không gian, thời gian nghệ thuật. Kawabata là nhà văn thuộc trường phái tân cảm
giác nên cảm xúc, cảm giác của nhân vật trở về đồng hiện trong dòng ý thức được Kawabata tập
trung miêu tả rất đặc sắc. Ở Kawabata, kĩ thuật dòng ý thức chưa trở thành một sự hỗn độn phi
logic của ngôn từ mà mới là sự phi logic của hình ảnh, liên tưởng, kí hiệu và biểu tượng trong
chuỗi độc thoại nội tâm của nhân vật. Sở dĩ như vậy là vì Kawabata lưu tâm truyền giữ bản sắc
Á Đông trong phong thái kể chuyện của mình. Những điều tác giả muốn người đọc “đồng sáng
tạo”, tác giả tạo ra một điểm nhấn bằng nghệ thuật chân không tĩnh lặng của Thiền. Vì vậy,
Kawabata đã có bản lĩnh tạo cho mình một phong cách riêng trong sáng tác mà ông đã dung hòa
“hai dòng chảy văn hóa Đông- Tây”. Kawabata là nhà văn đứng vững trên lập trường của một
nhà văn tôn vinh các giá trị văn hóa truyền thống đồng thời tiếp thu các kĩ thuật thể hiện mới
của xu hướng văn học hiện đại.
Bộ ba tác phẩm đạt giải Nobel của Kawabata đưa chúng ta trở về với một nền văn hóa
truyền thống mang bản sắc xứ sở Phù Tang có tính thẩm mĩ cao, là cái đẹp ông muốn tìm kiếm
và lưu giữ. Dùng những kĩ thuật hiện đại để mô tả cái truyền thống, những tác phẩm của ông sẽ
còn nguyên giá trị qua sự sàng lọc của thời gian.
Chương 1: DÒNG CHẢY CỦA NỘI TÂM

Trong tiểu thuyết thế kỉ XX ở phương Tây, kĩ thuật dòng ý thức xuất hiện cho phép nhà
văn thể hiện toàn diện các khía cạnh đa dạng của đời sống tinh thần con người. Dòng ý thức trở
thành một khái niệm phổ biến, một thủ pháp nghệ thuật phục vụ đắc lực cho những cách tân
trong lối kể chuyện ở tiểu thuyết so với các thế kỉ trước. Dòng ý thức được các nhà văn phương
Tây sử dụng đôi khi bị đẩy lên thành một hình thức cực đoan mang tính triết lí sâu xa nhằm phê
phán những mặt trái trong tâm hồn con người. Ở Kawabata, ngược lại, ông dùng kĩ thuật dòng ý
thức để thời thể hiện những góc khuất trong tâm hồn người Nhật, đồng thời ca ngợi cái đẹp và
văn hóa truyền thống.
Dòng ý thức của nhân vật chứa những lời độc thoại nội tâm, cảm xúc chân thật và những
hình ảnh liên tưởng khơi gợi những kí ức. Trong dòng ý thức miên man, hồi ức của nhân vật
thường xuất hiện thông qua các hình ảnh đồng hiện. Ở hiện tại, nhân vật đang hành động, đang
làm việc nhưng trong tâm tưởng những dòng suy nghĩ về quá khứ lại cứ ùa về như một dòng
chảy tuôn trào. Những hình ảnh của hiện tại cứ mờ dần, hình ảnh của quá khứ được chồng lên
trở nên sống động trong kí ức của nhân vật. Ranh giới giữa quá khứ và hiện tại trở nên nhạt
nhòa.
Dòng độc thoại nội tâm dẫn dắt người đọc tiếp cận với dòng ý thức của nhân vật. Nó hé
lộ thế giới tinh thần của con người với những tâm sự riêng tư, uẩn ức, dồn nén. Kawabata vận
dụng kỹ thuật đồng hiện một cách nhuần nhị bằng sự kết hợp vốn văn hóa phương Tây ông
được tiếp thu với vốn văn hóa phương Đông là cội rễ. Ở Kawabata, chúng ta bắt gặp thế giới
của những nhân vật có tâm hồn tinh tế và nhạy cảm, sống chan hòa với thiên nhiên và có chiều
sâu trong quan hệ với con người. Đặc điểm tính cách của các nhân vật trong bộ ba tác phẩm
Ngàn cánh hạc, Xứ tuyết, Cố đô là kiệm lời. Họ là những con người Nhật Bản có cuộc sống sâu
sắc, trầm lắng và đầy ắp những kỉ niệm.
1.1.Sắc màu nữ tính
1.1.1.Con sóng của hồi ức
“Kawabata muốn tìm gốc rễ cái Đẹp Nhật Bản ở thời Hêian (thế kỉ VIII-XII) có một nền
văn hóa ngọt ngào nữ tính; ông cho đó mới là bản chất thật của dân tộc Nhật, chứ không phải
sắc thái nam nhi thượng võ”[30, tr.102]. Là một người theo chủ nghĩa duy mĩ và chủ trương
khôi phục cái đẹp khuynh nữ theo giá trị văn hóa truyền thống, Kawabata xây dựng các nhân
vật nữ theo vẻ đẹp kiểu mẫu của người Nhật ở cả tâm hồn và hình dáng bên ngoài. Trong đó,
những mảng hồi ức trở về trong tâm thức nhân vật là khía cạnh chìm ẩn trong thế giới nội tâm.
Kawabata thâm nhập vào dòng ý thức, làm bật nẩy ra những chuỗi hình ảnh, kí hiệu giải mã thế
giới nội tâm của nhân vật.
Tiểu thuyết Cố đô là câu chuyện được kể khá tản mạn và ngẫu hứng, thiên về bộc lộ tâm
trạng nhân vật. Các thiếu nữ trong tiểu thuyết Cố đô có vẻ đẹp trong trắng, mong manh nhưng
bất tử tựa như bản chất cái đẹp của một đóa hoa anh đào. Tiếp cận với nội tâm của các nhân vật
nữ trong tiểu thuyết này, một thế giới thanh sạch, tinh khiết được mở ra tỏa hương khắp mọi cõi
lòng nhân loại. Chieko là nhân vật trung tâm của tiểu thuyết, đóng vai trò như một mắt xích
quan trọng trong sợi dây liên hệ các nhân vật còn lại. Dòng độc thoại nội tâm của Chieko bao
gồm các hình ảnh, tín hiệu đồng hiện được xâu chuỗi từ những mảng sắp đặt rời rạc nhưng tạo
thành một bố cục logic, hoàn chỉnh, có hệ thống.
Những hình ảnh đồng hiện được lưu giữ trong kí ức Chieko là hình ảnh về thiên nhiên
Kyoto, nơi có gia đình, bạn bè gắn bó với sự tồn tại và trưởng thành của cô. Hiện tại nhắc
Chieko nhiều hồi ức, kỉ niệm của quá khứ. Toàn bộ nội tâm hướng về những người thân xung
quanh, Chieko hầu như rất ít nghĩ cho riêng mình. Tâm trí của cô huy động những hình ảnh sinh
động của quá khứ làm thành một cuốn phim lúc chậm rãi, lúc lướt nhanh, lúc nhấn nhá, lúc thì
bỏ qua rất nhiều phân đoạn. Đau đáu trong nội tâm Chieko là hình ảnh ba mẹ nuôi với những ưu
tư kín đáo và sự giảm sút về thể trạng. Biết về thân phận thật của mình, tâm thức Chieko lại
chiêm nghiệm về quá khứ, tự đưa ra những bối cảnh đồng hiện giả định, trăn trở tìm về với cội
nguồn. Những hình ảnh đồng hiện đầy màu sắc ùa về trong tâm trí Chieko trong khi cuộc sống
hiện tại vẫn tiếp diễn. Thông qua các hình ảnh về người bạn Xinichi trong lễ hội Ghion, bối
cảnh mùa xuân đi dạo cùng gia đình, gặp gỡ Hideo, người đọc thấy được một mảng hồi ức trong
sáng ở Chieko. Sống kín đáo và thân thiện, Chieko hầu như rất ít thổ lộ tâm tình của mình với
người khác. Chỉ nhờ thâm nhập dòng độc thoại nội tâm của nhân vật, chúng ta mới khám phá
được những sự việc, hình ảnh được ghi lại trong bộ nhớ của cô, có ý nghĩa đối với bản thân cô.
Vốn nhu mì và kín đáo, những rung động sâu xa nhất giành cho Riuxuke được Chieko dấu tận
trong tiềm thức. Trong giấc ngủ, khi ý thức đã tạm ngừng vai trò của mình, những hình ảnh của
Riuxuke mới trở về đồng hiện trong Chieko. Những hình ảnh đồng hiện trong tâm tưởng của
Chieko đóng vai trò hé lộ những bí mật của thế giới tinh thần mà nhân vật không thể hiện hết
với những người xung quanh mình, ngay cả với người thân.
Diễn biến của nội tâm vốn không có quy luật và dòng ý thức ra đời để mở rộng tối đa sự
không giới hạn của những biến động trong tâm hồn. Những khung cảnh đồng hiện được thể
hiện thông qua dòng ý thức. Đồng hiện có thể là một hình ảnh, chi tiết cụ thể. Nhưng đồng hiện
cũng có thể là một ấn tượng, cảm nhận trừu tượng, vô hình tác động đến cảm xúc, nhận thức
của nhân vật. Có lúc hình ảnh đồng hiện chỉ được lướt qua một cách nhanh chóng trong tâm trí
nhân vật khi nhân vật đang đi trên trục thời gian của hiện tại. Có lúc hình ảnh quá khứ trở về
đồng hiện được mô tả chi tiết, tỉ mỉ, để lại dấu ấn đậm sâu của quá khứ đối với nhân vật.
Đối với Kawabata, những nhân vật nữ với ngoại hình đẹp và tâm hồn trắng trong là
nguồn cảm hứng cho cuộc sống đầy tính nghệ thuật. Qua tác phẩm Cố đô, ông đã xây dựng
được tuyến nhân vật nữ giàu tình yêu thương, nồng hậu trong mối quan hệ giữa con người với
con người.
Kỉ niệm ngọt ngào còn in dấu trong Chieko là hồi ức về quãng thời gian hạnh phúc, vô tư
thưở ấu thơ. Rừng thông Bắc Sơn, vắng vẻ và hùng vĩ nhắc Chieko nhớ về cha nuôi hay âm
thanh rộn ràng lễ Ghion thúc giục lòng người lập tức đưa Chieko trở về với hồi ức Xinichi dễ
thương ngày xưa làm chú tiểu rước lễ. Biến động khá lớn lao khuấy động cuộc sống bình lặng
của Chieko là việc vô tình gặp gỡ người chị em song sinh Naeko. Cuộc gặp này khẳng định sự
tồn tại độc lập của một người thân ruột thịt mà Chieko không hề biết. Cô buộc phải thừa nhận
rằng mình là đứa con bị bỏ rơi và e sợ những điều sẽ gây phiền toái cho cha mẹ nuôi của mình.
Vì quá bất ngờ, ý thức của cô tiếp nhận việc này một cách chậm chạp. Tuy nhiên, trong giấc
mơ, cuộc gặp với người chị em trở về đồng hiện rất rõ, song thái độ cư xử của cô thì hoàn toàn
khác với thực tế. Tiềm thức của Chieko xử lý những sự kiện mà Chieko phải đối đầu theo đúng
bản tính của cô. Cô thực sự quan tâm đến hoàn cảnh sống của Naeko và cái chết của cha mẹ
ruột. Những dòng độc thoại nội tâm chứng minh Chieko của hiện tại bị chi phối bởi sự nhân ái
dành cho những người xung quanh mình.
Chieko luôn hướng về những kỉ niệm, những điều đã trải qua với trái tim nhân hậu và
kính yêu cha mẹ, giành cho cha mẹ những tình cảm thiết tha, chân thành nhất. Từ ngôi chùa ông
Takichirô chọn làm nơi ở ẩn, Chieko trên đường trở về nhà mà đầu óc cứ băn khoăn mãi với
hình ảnh cha ở lại trong chùa một mình nhai cắn tràng hạt. Những bước chân của Chieko song
hành với tiếng mõ và hình ảnh ông Takichirô lần tràng hạt cùng xen kẽ nhau như một cảnh
phim có sử dụng kĩ thuật đồng hiện. Ở ông Takichirô những ức chế bị kìm nén biểu hiện ra
thành những suy nghĩ và hành vi có chút cay nghiệt và kì quặc. Chieko đồng cảm sâu sắc với
cha và xót xa vì không làm gì được để giúp cha giải tỏa tâm trạng bực dọc hằng ngày. Và tâm
tưởng Chieko bị dẫn dắt tới một khung cảnh khác là một hệ quả tương đương: cha và tràng hạt-
mẹ và chuông chùa. Trở về với thời điểm mẹ không đủ sức để thỉnh chuông chùa ngân vang,
Chieko phải thỉnh giúp mẹ, tiếng chuông vọng tới hiện tại đã làm Chieko nhẹ nhõm. Khi trở về
nhà, trong cuộc đối thoại với mẹ, hình ảnh người cha và tràng hạt một lần nữa trở về trong kí ức
của Chieko. Cuộc nói chuyện với cha lúc ở chùa cũng trở về đồng hiện. Nhưng Chieko đã
không kể với mẹ dù Chieko là sợi dây liên kết tình cảm giữa ông Takichirô và bà Xighe. Trên
đường đi cùng cha mẹ xem nhà để mua, nhìn vườn hoa trước sân, Chieko chợt muốn ngắm hàng
cây long não. Ý thức nàng dẫn dắt đến hai sự việc vào mùa xuân năm nay, Chieko đã đi cùng
gia đình và gặp cha con Hideo cũng đi ngắm long não và cái lần ở Bắc Sơn, Naeko nói thích
những cây tự mọc bằng sức mình, thông liễu và long não đều là những loài cây mọc thẳng, mà
thông liễu là loại cây trồng. Chieko nhạy cảm nghĩ tới bản thân mình và nội tâm luôn bị quá
khứ chi phối. Chieko là cô gái tao nhã, thanh cao, tinh tế và hạnh phúc. Dù vậy, bên cạnh những
hồi ức trong trẻo, quá khứ cũng tạo cho Chieko những khoảng trống không thể lấp đầy.
1.1.2 Nỗi day dứt khôn nguôi
Trong tác phẩm Cố đô, toàn bộ sự việc từ đầu câu chuyện đến lúc Chieko đến thăm
Naeko tại khu rừng Bắc Sơn là một bối cảnh đồng hiện lớn. Tiến trình mô tả không thuận theo
chiều thời gian vật lý mà được tái hiện theo kiểu của điện ảnh: một đoạn phim trắng đen và một
đoạn phim màu được xen kẽ nhau. Quá khứ và hiện tại được phân định nhau và nối tiếp nhau
bằng sự liên tưởng của tâm lý tạo thành một trường đoạn xúc cảm bất tận. Một lớp các sự kiện,
hình ảnh của quá khứ được đồng hiện khiến cho tâm thức Chieko luôn băn khoăn, trăn trở.
Nhìn từ bên ngoài, Chieko là một cô gái hạnh phúc. Chính Xinichi- bạn thân từ nhỏ của
cô- cũng có nhận xét như vậy. Song theo dòng nội tâm của nhân vật, chúng ta bắt gặp một chuỗi
hình ảnh, liên tưởng, biểu tượng mà Chieko giấu kín trong tâm tưởng của mình. Chieko có
những nỗi niềm riêng, không thể khỏa lấp. Trong khi cuộc sống bên ngoài của Chieko diễn ra
khá bình lặng thì nội tâm của cô lại đêm ngày cuồn cuộn như những con sóng ngầm.
Thông qua cuộc trò chuyện với Xinichi, Chieko chia sẻ bí mật mình là đứa con bị bỏ rơi.
Dù cho cuộc sống hiện tại của cô không bị ảnh hưởng bởi bí mật đó song điều đó đã khơi gợi
cho cô suy nghĩ về nguồn gốc của mình. Như một dòng chảy của tự nhiên, cái đẹp tìm về nguồn
cội, trở về nơi mạch nguồn truyền thống. Trong câu chuyện với Xinichi, cái lần đầu tiên Chieko
được mẹ gọi lại để nói sự thật trở về đồng hiện. Khi ấy cô còn quá nhỏ để nhận thức được sự
thật cô phải đối diện. Khi đã trưởng thành, Chieko cứ day dứt, trở đi trở lại hoài với băn khoăn
cha mẹ đã nhặt được mình ở đâu. Từ những dữ liệu qua lời kể của cha mẹ, Chieko dùng trí
tưởng tượng của mình để tái hiện không gian mình bị bỏ rơi. Chieko đủ tinh tế để nhận ra sự
mâu thuẫn qua lời nói không thống nhất của bố mẹ. Chieko nhận được hai câu trả lời khác nhau
cho cùng một câu hỏi: Chieko được nhặt dưới rặng anh đào ở Ghion và bên bờ sông Kamogaoa.
Tuy nhiên, Chieko quan tâm nhiều hơn tới việc mình còn có những người thân mà mình chưa
hề gặp. Sau khi bất ngờ gặp Naeko, nội tâm Chieko đeo đuổi những suy tưởng bất tận miên
man. Qua lời của Naeko, biết được “cha ngã cây trong Bắc Sơn lúc đang chặt cành và bị
thương đến chết”, Chieko đồng hiện khu rừng Bắc Sơn của kí ức. Đột nhiên, không gian kì vĩ lạ
lẫm ấy trở nên thân quen và Chieko tin rằng sự gắn kết ấy là do “linh hồn người cha đã khuất
vẫy gọi ta, thế nên ta thích đến ngôi làng ấy ngắm thông liễu”[37, tr.653]. Không gian thông
liễu và người đàn ông khốn khổ trong bức tranh mờ ảo đồng hiện trở thành tín hiệu kết nối
Chieko và Naeko. Chieko xót xa khi hình dung về sự vất vả của bố mẹ ruột và hoàn cảnh cô độc
của Naeko hiện tại.
Naeko là nhân vật có ngoại hình giống Chieko. Được sinh ra và lớn lên từ một gia đình
lao động và sống tự lập nên Naeko có vẻ rắn rỏi và mạnh mẽ hơn người chị em của mình. Hẹn
gặp nhau nơi rừng thông, khi trời bất chợt đổ mưa, Naeko đã lấy thân mình che cho Chieko. Về
sau sự tiếp xúc gần gũi với Naeko một lần nữa đã giúp Chieko nhận ra “thân hình Naeko chắc
nịch khỏe mạnh biết bao” và những hình ảnh đầy cảm động trong rừng mưa dạo nào lại trở về
trong kí ức Chieko. Nghĩa cử của Naeko đã khiến Chieko vô cùng cảm động.
Cách thời điểm Chieko và Naeko gặp nhau nơi rừng thông một thời gian không lâu,
Hideo mang đến cho Naeko một điều bất ngờ là chiếc thắt lưng kimono do Chieko đề nghị
Hideo dệt. Khi Naeko nhận thắt lưng từ tay Hideo, trong sự tuôn chảy dạt dào của cảm xúc,
những hình ảnh xưa cũ về gia đình lại trở về trong tâm thức của Naeko. Cô cũng đã nhớ lại
người cha đã khuất. Hình ảnh người đàn ông gầy guộc đang đốn thông liễu rồi bị sảy chân hiện
ra trong tưởng tượng của Naeko. Trong sự đối lập giữa cảnh khổ cực của bố mẹ ngày xưa và
khoảnh khắc đoàn tụ hạnh phúc đầy éo le của chị em Chieko và Naeko hiện tại khiến Naeko
thấy vừa xót xa vừa xúc động. Đọng lại trong lòng người đọc là tình cảm chị em ấm áp, chân
thành giữa Chieko và Naeko.
Kawabata hướng đến cái nữ tính thuần chất Á Đông, gắn với truyền thống dân tộc Nhật
Bản. Một thế giới với các cô gái đẹp, trong sáng được mở ra thông qua những bức tranh quá
khứ lần lượt trở về đồng hiện. Lí trí và cảm tính, nhạy cảm và mãnh liệt, tinh tế và trong sáng,
những thiếu nữ trong sáng tác của Kawabata có một sức sống bền bỉ cùng tiềm thức người đọc.
1.2 Lữ khách trên hành trình đi tìm cái đẹp
1.2.1 Khắc khoải vì cái đẹp
Kawabata là người đề xướng trường phái Tân cảm giác trên văn đàn Nhật đầu thế kỉ XX.
Đề cao vai trò của trực giác trong việc cảm thụ cái đẹp, Kawabata xây dựng hình tượng nhân
vật lữ khách nhạy cảm, tinh tế tìm kiếm cái đẹp bằng tâm hồn của một nghệ sĩ. Cái đẹp này rực
rỡ nhưng dễ tan biến, thấy được nhưng khó nắm bắt. Cái đẹp là tiêu thức nghệ thuật, là tín
ngưỡng của người Nhật Bản. Những lữ khách trong ba tác phẩm Xứ tuyết, Ngàn cánh hạc, Cố
đô lặng lẽ trải lòng với vũ trụ, trầm mặc, khao khát chinh phục và lĩnh hội cái đẹp vĩnh hằng.
Đôi lúc, bị cái đẹp si mê làm cho cuốn hút, lữ khách chới với giữa khoảng trống của thực tế và
hư không.
Các nhân vật nam trong Cố đô, từ ông chủ tiệm kinh doanh hàng vải kimono đến chàng
thanh niên đứng máy dệt Hideo hay cậu học trò Xinichi, đều được thể hiện ở chiều sâu nội tâm.
Trong khi đó, ở Xứ tuyết và Ngàn cánh hạc, câu chuyện được tường thuật thông qua điểm nhìn
của một nhân vật, là Shimamura và Kikuji. Hình thức của các chuyện trong bộ ba tác phẩm Xứ
tuyết, Ngàn cánh hạc, Cố đô không còn tuân theo cấu trúc: Giới thiệu- Mở nút- Phát triển- Cao
trào- Kết thúc như cách kể chuyện truyền thống nữa. Kết cấu tác phẩm giờ đây biến đổi linh
hoạt nhờ vào kĩ thuật đồng hiện nơi quá khứ song hành với hiện tại, góp phần phát triển câu
chuyện. Trong khi hiện tại vẫn tiếp diễn và có những khoảng trống chưa được lí giải thì chính

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét