Thứ Năm, 17 tháng 4, 2014

HUYỀN THOẠI VỀ NGUYỄN TRÃI VÀ NGUYỄN THỊ LỘ


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "HUYỀN THOẠI VỀ NGUYỄN TRÃI VÀ NGUYỄN THỊ LỘ": http://123doc.vn/document/555919-huyen-thoai-ve-nguyen-trai-va-nguyen-thi-lo.htm


N
g
u
y

n

T
r
ã
i

v
à

T
h


L

V


á
n

L


C
h
i

V
iên
Ngày 1/9/1442, vua Lê Thái
Tông, đi duyệt võ ở Chí Linh,
trên đường về ghé vào Côn
Sơn thăm Nguyễn Trãi.
Nguyễn Trãi có một người vợ
lẽ là Nguyễn Thị Lộ vừa đẹp
vừa hay chữ, từng được Thái
Tông vời vào triều phong
chức Lễ Nghi học sĩ giữ công
việc dạy cung nữ và giảng
sách cho vua. Trước khi Thái
Tông đến Côn Sơn, Thị Lộ đã
về đấy thăm Nguyễn Trãi.
Lúc vua rời Côn Sơn, Thị Lộ
được lệnh theo nhà vua về
triều.
Ngày 7/9, xa giá Thái Tông
đến Lệ Chi viên (tục gọi là
Trại Vải) ở làng Đại Lai,
huyện Gia Bình, tỉnh Bắc
Ninh. Đêm ấy, vua bị cảm,
đến sáng thì mất. Các quan
hộ giá giữ kín, đến ngày
9/9/1442 mới rước linh cữu
vua về Thăng Long, rồi báo
tin cho nhân dân cả nước
biết. Ngay sau đó, Thị Lộ bị
bắt. Nguyễn Trãi đang đi
kiểm tra ở Đông Bắc, được
tin Thái Tông mất, vội trở về
Triều cũng bị bắt và bị buộc
tội đồng mưu với Thị Lộ để
giết vua.
Ngày 19/9/1442, Thị Lộ và
Nguyễn Trãi bị tru di tam tộc
(a). Sử thần Ngô Sĩ Liên ghi
rằng: "Vì yêu Thị Lộ mà Thái
Tông bị thiệt thân".
Chú thích: - (a) Tru di tam
tộc: giết ba họ (họ cha, họ
mẹ, họ vợ).
Vậy, tông tích Thị Lộ -
Nguyễn Trãi thế nào? Có phải
Thị Lộ thật sự đã giết Thái
Tông, và đã có ảnh hưởng gì
đến cuộc trị vì của nhà vua
không?
Tông tích Nguyễn Thị Lộ
(1390-1442)
Nguyễn Thị Lộ vốn là con
nhà có học thức, quê làng Hải
Triều, một làng làm chiếu có
tiếng, nay thuộc xã Phạm Lễ
xưa thuộc huyện Ngự Thiên,
(Thái Bình). Tương truyền,
năm 1406, khi Nguyễn Trãi
(26 tuổi) đang làm quan nhà
Hồ, gặp Thị Lộ (16 tuổi) ở Vũ
Lăng, thấy xinh đẹp, liền ứng
khẩu:




đ
â
u

m
à

b
á
n

c
h
i
ế
u

g
o
n
,
C
h

n
g

h
a
y

c
h
i
ế
u

b
á
n

h
ế
t

h
a
y

c
ò
n
?
X
u
ân xanh nay độ bao nhiêu
tuổi?
Đã có chồng chưa được mấy
con?
Thị Lộ cũng ứng khẩu đáp lại:
Tôi ở Tây-hồ bán chiếu gon,
Cớ chi ông hỏi hết hay còn?
Xuân xanh tuổi độ vừa đôi
tám,
Chồng còn chưa có, có chi
con!
Nguyễn Trãi yêu vì tài nên
lấy làm thiếp. Thị Lộ không
có con với Nguyễn Trãi, xin
cháu của Ngô Từ là Ngô Chi
Lan làm con nuôi. Ngô Chi
Lan đổi tên là Nguyễn Hà
Huệ, sau làm Lễ Nghi học sĩ
trong cung Lê Thánh Tông,
chồng là Phù Thúc Hoành,
làm Bác sĩ giảng kinh sử
Quốc Tử Giám. (1)
Lai lịch Nguyễn Trãi
(1380-1442)
Nguyễn Trãi gốc làng Nhị
Khê, tỉnh Hà Đông, sinh năm
1380 ở Thăng Long, tại nhà
ông ngoại là quan Tư-đồ Trần
Nguyên Đán. Nguyên Đán có
hai gái là Thái và Thai, nuôi
hai nho sinh là Nguyễn Ứng
Long dạy Thái, và Nguyễn
Hán Anh dạy Thai. Hai thầy
gian díu với hai học trò. Thái
có chửa, Ứng Long sợ bỏ
trốn. Nguyên Đán gọi về, tha
tội, và gả con cho. (2)
Sau hai người đều thi đỗ.
Ứng Long, cha Nguyễn Trãi,
đỗ bảng nhãn (1374)(3) mà
Thượng hoàng Trần Nghệ
Tông không cho làm quan, vì
tội "thường dân mà thông
dâm lấy con gái tông thất",
nên phải về Nhị Khê sống
nghề dạy học.
Thời ấy, Lê Quí Ly, được
Thượng-hoàng Nghệ Tông
sủng ái, sàm tấu giết hại
nhiều người, cả vua chúa
vương thân cũng không trừ.
Duy có Trần Nguyên Đán
toàn gia được yên ổn, nhờ
biết lo xa, kết thân gia với Lê
Quí Ly.
Năm 1400, Quí Ly truất phế
vua Trần Thiếu đế, chiếm
ngôi, mở khoa thi Thái học
s
i
n
h
,

N
g
u
y

n

T
r
ã
i

t
h
i

đ


r
a

l
à
m

q
u
a
n
,

b


l
à
m

C
h
á
n
h

c
h
ư

n
g

đ
à
i
Ngự sử. Năm 1402, Ứng
Long đổi tên là Phi Khanh,
cũng quan với nhà Hồ, với
chức Hàn Lâm học sĩ.
Năm 1407, quân Minh mượn
cớ phù Trần diệt Hồ để xâm
chiếm nước ta. Hồ Quí Ly bị
thua. Cuối tháng sáu năm
1407, giặc Minh bắt được cha
con Hồ Quí Ly và một số
quan, tướng trong đó có Phi
Khanh, cha của Nguyễn Trãi,
giải về Kim Lăng. Nguyễn
Trãi theo cha đến điếm Vạn
Sơn (tỉnh Hồ Bắc), rồi tuân
lời cha trở về nước lo "trả thù
nhà, rửa nhục nước", để em
là Phi Hùng ở lại nuôi cha.
Theo Nhân Vật Chí của Phan
Huy Chú, Trương Phụ ép Phi
Khanh viết thư gọi con,
Nguyễn Trãi bắt đắc dĩ phải
ra trình diện. Trương Phụ dụ
Nguyễn Trãi ra làm quan
không được, muốn giết,
Hoàng Phúc can và tha song
buộc Nguyễn Trãi phải ở
Đông Quan, là nơi có đại bản
doanh của chúng. Sau khi
thoát ra khỏi Đông Quan, sau
đó, Nguyễn Trãi làm gì? ở nơi
nào?
Mãi đến khoảng 1416/1417,
có tin Lê Lợi ở Thanh Hóa
chuẩn bị mộ quân đánh giặc
Minh, Nguyễn Trãi và em họ,
Trần Nguyên Hãn, đến ra
mắt. Nhưng Hãn thấy Lê Lợi
"có tướng như Việt vương
Câu Tiễn, chỉ có thể giúp
trong lúc hoạn nạn, không
thể ở với nhau khi sung
sướng", nên cả hai bỏ ra về.
Trong chuyến nầy có Thị Lộ
cùng đi, phong cách lúc nào
cũng tươi cười, nhẫn nại,
hoạt bát, đoan chính, được
mọi người kính nể. (4)
Thời gian sau, có tin Lê Lợi
đứng lên khởi nghĩa, Nguyễn
Trãi và Nguyên Hãn vào Lỗi
Giang tìm Lê Lợi lần nữa
(1420). Lần nầy, Hãn "lén
thấy Lê Lợi uy nghiêm, khí
tượng thay đổi ", bấy giờ Hãn
mới dâng kiếm báu của nội tổ
là Trần Quang Khải, còn
Nguyễn Trãi dâng Bình Ngô
sách, chủ trương "đánh vào
lòng người" cuối cùng sẽ
thắng. Lê Lợi khen hay, dùng
N
g
u
y

n

T
r
ã
i

l
à
m

H
à
n

L
â
m

T
h

a

C
h

,

c
o
i

v
i

c

t
h

o

v
ă
n

t
h
ư
,

c
h
i
ế
u hịch, tham dự bộ tham
mưu, và dùng Hãn làm quan
võ.
Trong thời kháng chiến, Lê
Lợi và các quan tướng thường
đem vợ con theo, nên khi
Nguyễn Trãi thảo thư từ,
chiếu hịch đều có Thị Lộ bên
cạnh giúp việc sửa chép. (5)
Năm 1428, kháng chiến toàn
thắng, Nguyễn Trãi được tước
hầu, làm Thượng thư bộ Lại
(coi về nhân viên, quan lại).
Nhưng năm sau vì liên can
với Trần Nguyên Hãn, (bị vua
nghi, sai người bắt giết, Hãn
nhảy sông tự tử), nên
Nguyễn Trãi bị tù. Nhờ các
đại thần can thiệp, Trãi được
tha ra, làm quan lại một thời
gian, rồi xin nghỉ việc về Côn
Sơn.
Năm 1433, Lê Lợi mất,
Nguyên Long 10 tuổi, kế ngôi
(Lê Thái Tông). Lê Sát làm
đại tư đồ. Nguyễn Trãi được
Thái Tông, theo di mệnh của
Thái Tổ, gọi ra phụ chính,
chức Gián nghị đại phu. (6)
Theo Toàn Thư tục biên, Lê
Sát thấy Thái Tông còn nhỏ,
thích chơi bời, lười biếng học
tập, liền lập một ban văn
thần, trong số đó có Nguyễn
Trãi, để thay phiên vào tòa
Kinh Diên dạy vua. Cả bọn
đều bị Thái Tông đuổi về.
Sau đó, Lê Sát bị khép vào
tội lộng quyền, vua cho được
tự tử tại nhà.
Trước tình trạng ấy, năm
1438, Thái bảo Ngô Từ đưa
ra ý kiến có lẽ Thị Lộ dịu
dàng khéo léo, học giỏi, văn
hay, may ra có thể giúp nhà
vua chăm chỉ học hành. Sau
khi hội ý với Nguyễn Trãi, Thị
Lộ, Ngô Từ đưa Thị Lộ vào
chầu Thái Tông, được vua
nhận, phong làm Lễ Nghi học
sĩ, ngày đêm kề cận tin dùng.
(7)
Nguyên nhân sâu xa
vụ án Lệ Chi Viên
Trong số năm bà vợ của Lê
Lợi, có bà phi Nguyễn Thị
Anh sinh ra Băng Cơ được
phong làm thái tử. Bà phi
Ngô Thị Ngọc Dao (con gái
của Ngô Từ) đang có mang,
c
h
i
ê
m

b
a
o

t
h

y

N
g

c

H
o
à
n
g

s
a
i

m

t

v


t
i
ê
n

x
u

n
g

đ

u

t
h
a
i

v
à
o

mình. Thị Anh sợ rằng một
khi bà Ngọc Dao sinh quí tử,
sẽ chiếm ngai thái tử của
Băng Cơ, nên vu cho Ngọc
Dao dính líu đến một việc
bùa ngãi, xui vua Thái Tông
khép Ngọc Dao vào tội "bị voi
giày".
Nguyễn Trãi bảo Thị Lộ
khuyên Thái Tông đừng nghe
lời xúc xiểm mà làm việc thất
đức. Vua đồng ý, cho phép
Thị Lộ đem Ngọc Dao giấu ở
chùa Huy Văn. Vài tháng sau,
bà Ngọc Dao sinh ra một
người con trai, vua đặt tên là
Tư Thành (vua Lê Thánh
Tông sau nầy). Để tránh khỏi
Nguyễn Thị Anh mưu hại,
Nguyễn Trãi đưa hai mẹ con
bà Ngọc Dao ra An-bang
(Quảng-ninh ngày nay).
Từ đấy bà Nguyễn Thị Anh
thâm thù Nguyễn Trãi và Thị
Lộ. Vừa xảy ra vụ Thái Tông
đột ngột mất ở Lệ Chi viên,
Băng Cơ mới 2 tuổi, nối ngôi
(tức là Lê Nhân Tông), Thị
Anh được ngồi sau rèm nhiếp
chính, liền hùa với bọn gian
thần ra lệnh tra tấn Thị Lộ
cực kỳ dã man. Thị Lộ phải
nhìn nhận đã cùng Nguyễn
Trãi âm mưu giết vua. Cả hai
cùng thân thuộc bị trảm
quyết.
Sau có tin đồn trước đây
Nguyễn Trãi dọn vườn có giết
một bầy rắn con, nay rắn mẹ
hiện hình thành Thị Lộ để báo
oán, cũng như xưa, bên Tàu,
sau khi giết Dương Quí Phi
người ta cũng bảo Dương thị
là một hồ ly tinh hiện hình
lên báo hại vua Đường.
Ai đã giết Lê Thái
Tông?
Năm 1459, Nhân Tông (Băng
Cơ) và Từ Tuyên Thái hậu
(Nguyễn Thị Anh) bị hoàng tử
Nghi Dân giết để tiếm ngôi.
Trong một bài chiếu, Nghi
Dân có nói: "Trẫm là con
trưởng của Thái Tông Văn
hoàng Đế, trước đây đã được
giữ ngôi chính ở Đông Cung.
Chẳng may Tiên đế đi tuần
về miền đông, bỗng băng ở
bên ngoài. Nguyễn Thái hậu
muốn giữ vững quyền vị,
ngầm sai nội quan Tạ Thanh
d

n
g

B
ă
n
g

C
ơ

l
à
m

v
u
a
,

b

t

t
r

m

l
à
m

p
h
i
ê
n

v
ư
ơ
n
g
.

S
a
u

T


T
h
a
n
h

tiết lộ việc ấy, lây đến Thái
úy Trịnh Khả và Tư không
Trịnh Khắc Phục, Thái hậu
bắt giết cả để diệt hết người
nói ra." (8)
(Tạ Thanh là một thái giám
hộ giá Thái Tông trên đường
về Thăng Long, tối hôm
9/9/1442. Thái Tông bị cảm,
phải nghỉ lại Lệ Chi viên. Ngự
y chưa tới kịp. Thị Lộ túc trực
săn sóc vua. Bọn thái giám
Tạ Thanh, Lương Dật chạy
biến đi mất, nói là đi tìm thầy
thuốc địa phương, sáng mới
về, vua đã tắt thở. Sau đó,
Tạ Thanh tố cáo Thị Lộ giết
vua, và bắt giam. Rồi hai
tướng Đinh Liệt và Trịnh Khả
đứng lên tuyên bố Thái Tông
đã lập Băng Cơ làm thái tử và
ủy thác Trịnh Khả phụ chính.)
Đến năm 1464, đời Lê Thánh
Tông, (1460-1497) vua
xuống chiếu tẩy oan cho
Nguyễn Trãi, truy phong chức
Đặc tiến kim tử Vinh Lộc đại
phu, tước Tán trù bá và cho
người con duy nhất trốn
thoát nạn là Nguyễn Anh Vũ
làm tri huyện, và cấp cho họ
Nguyễn một trăm mẫu ruộng
để lo việc thờ cúng.
Nhưng không thấy vua ra
lệnh truy lại xem ai đã giết
Thái Tông. Có lẽ vì Thái hậu
Ngô Thị Ngọc Dao khi thuật
lại chuyện cũ, có dặn vua
Thánh Tông rằng: "Chính
Nguyễn Thị Anh đã ngầm sai
Tạ Thanh bỏ thuốc độc cho
Thái Tông chết, nhưng con
nên giữ kín việc ấy". (9)
Ngày nay, Bùi Văn Nguyên
trong "Con người Nguyễn
Trãi", cũng cho rằng: "Bọn
gian thần phía bà phi Nguyễn
Thị Anh âm mưu giết hại Lê
Thái Tông, Nguyễn Trãi,
Nguyễn Thị Lộ để giành ngôi
vua cho Băng Cơ (Lê Nhân
Tông) khỏi rơi vào tay của Tư
Thành (tức sau là Lê Thánh
Tông), người được Nguyễn
Trãi và Thị Lộ ủng hộ. Đó
chính là nguyên nhân sâu xa
của vụ án Lệ Chi viên." (10)
Nguyễn thị Lộ cảm
hoá Thái Tông
Trong 4 năm (1438-1442),
n
h


c
ó

s


h
ư

n
g

d

n

c

a

T
h


L

,

m
à

T
h
á
i

T
ô
n
g

đ
ã

t
r


v
ì

m

t

c
ách khoan từ sáng suốt. Sử
thần Vũ Quỳnh khen: "Thị Lộ
đã cảm hóa được Lê Thái
Tông, thuyết phục vua chăm
chỉ đèn sách, lại giúp vua
nhiều ý kiến để sửa trị nước.
Cậu bé bất trị nay đổi thành
một "minh quân" khác hẳn
trước. […] Ngài lại thể theo
lòng trời đất nuôi sống muôn
loài, ban hành "chính sách
xót thương bất nhẫn" của bậc
đế vương, xử kiện xét tù
phần nhiều khoan thứ. Đức
"hiếu sinh" của ngài là đức
của vua Thuấn xưa." (11)
Được như thế, phải chăng là
nhờ Thị Lộ thường xuyên
nhắc nhủ Thái Tông về nhân
nghĩa, mà Nguyễn Trãi đã có
dịp trình bày với vua trong vụ
xử bảy tên vị thành niên ăn
trộm tái phạm, năm 1435,
hình quan chiếu luật đáng tội
chém. Thái Tông đem việc ấy
hỏi Nguyễn Trãi. Trãi trả lời:
"Pháp lệnh không bằng nhân
nghĩa, cũng rõ lắm rồi. Nay
một lúc giết bảy người, e
không phải là hành vi của
bậc đại đức. Kinh Thư có câu:
"An nhữ chỉ " (hãy yên với
chỗ đứng của mình), sách
Truyện có câu: "Tri chỉ nhi
hậu hữu định" (biết dừng thì
rồi mới vững). Thần xin thuật
lại nghĩa của chữ "chỉ" để bệ
hạ nghe: "Chỉ " có nghĩa là
yên với chỗ đứng của mình,
như trong cung là chỗ đứng
của bệ hạ, thỉnh thoảng bệ
hạ có ngự ra chỗ khác, cũng
không thể ở đó mãi, phải trở
về trong cung, thì mới yên
chỗ đứng của mình được.
Người làm vua đối với nhân
nghĩa cũng vậy, phải để lòng
nơi nhân nghĩa, coi nhân
nghĩa là chỗ đứng của mình.
Tuy có lúc ra oai giận dữ,
nhưng không phải như thế
mãi được, xin bệ hạ lưu ý
những lời của thần." (12)
Vấn đề thân tình giữa
Thái Tông và Thị Lộ
Vì Thái Tông tỏ ra thân mật,
khăng khít ngày đêm trò
chuyện với Thị Lộ, nên có
nhiều dị nghị cho rằng: "Lê
Thái Tông hồi 17, 18 tuổi đã
thông dâm với vợ lẽ của
Nguyễn Trãi là Nguyễn Thị
L

.
"

C
ó

b
i
ế
t

đ
â
u

t
ì
n
h

c

m

m
à

T
h
á
i

T
ô
n
g

g
i
à
n
h

c
h
o

T
h


L


đ
ã

b
ắt nguồn từ một cội rễ thiêng
liêng hơn.
Nguyên năm 1425, trong thời
gian đang đánh nhau với
quân Minh, Lê Lợi nằm mộng
thấy thần "Cá Quả" đến nói
"Xin tướng quân cho một
người thiếp thì nguyện giúp
tướng quân đánh được giặc
Ngô mà thành nghiệp đế".
Ngày hôm sau, Lê Lợi gọi các
thiếp đến hỏi ai bằng lòng
làm vợ của thần "Cá Quả", ta
được thiên hạ sẽ truyền cho
con của người ấy làm vua. Bà
Phạm thị Ngọc Trần (mẹ của
hoàng tử Nguyên Long, nay
là Thái tông, lúc đó mới 2
tuổi) thưa: "Nếu ngài giữ lời
ước thì thiếp xin nhận. Ngày
sau xin đừng phụ mẹ con
thiếp" (13). Lê Lợi giao ước
với các quan văn võ y như lời
ấy. Ngày 24 tháng 3 âm lịch
1425, sai lập đàn tế thần,
dâng bà phi họ Phạm làm tế
vật. Bà phi mặc áo quần lộng
lẫy, bịt mắt lại, lên ngồi trên
chiếc thuyền nan bằng giấy.
Thuyền được thả theo dòng
sông Lam và chìm dần dần,
trong tiếng nhị, tiếng sáo
điệu Nam Ai sầu não, cùng
trong tiếng khóc nức nở của
các phi tần và của Nguyễn
Thị Lộ, thiếp của Nguyễn
Trãi. Về sau, giữ lời ước ấy,
Lê Lợi truyền ngôi cho
Nguyên Long, (tức là vua Lê
Thái Tông).
Nguyên Long mồ côi mẹ từ
lúc 2 tuổi, phải nhờ một bà
phi chăm sóc, tất nhiên đã
cảm thấy thiếu thốn, thèm
khát tình "mẫu tử" từ lâu.
Nay gặp được Thị Lộ cùng
một lứa tuổi với mẹ mình
(năm 1438, Thị Lộ 48, Thái
Tông 15 tuổi), lại là một
người đã quen biết, đã chung
sống với mẹ mình, đã chứng
kiến thảm cảnh mẹ mình hy
sinh mạng sống để mình
được lên ngôi vua ngày nay,
tự nhiên cậu bé mồ côi mẹ
kia không khỏi vô cùng xúc
động. Thường tình, ở vào địa
vị ấy, ai cũng phải tò mò
muốn hỏi cho rành rọt về mọi
việc liên quan đến mẹ mình.
Tất cả tình thương đối với
người quá cố, có lẽ nhà vua
đ
ã

d

n

h
ế
t

v
à
o

T
h


L

,

c
o
i

n
h
ư

m

t

b
à

d
ì

r
u

t
,

v

t

v
á
t

l

i

n
hững gì đã mất mát từ thuở
bé thơ. Còn về sau, khi Thái
Tông đến tuổi 17, 18, sáng
chiều nam nữ cận kề, thật
cũng khó mà tránh khỏi bị
tiếng đời dị nghị. Đó là điều
mà Ngô Từ, cũng như
Nguyễn Trãi, Thị Lộ cũng đã
thấy trước rồi.
Nhận xét
Nhưng "ngộ biến phải tòng
quyền". Theo Mạnh-tử,
"quyền" là cân nhắc cho rõ
nặng nhẹ, để lựa bên nào
nặng, bên nào nhẹ mà xử trí
cho đúng cân trung bình.
Trong đạo quân tử, "tùy thời"
thì cũng phải "tòng quyền":
Một bên để vua ăn chơi thất
học, trị vì vô đạo, cả nước sẽ
bị nguy khốn, một bên tạo ra
hoàn cảnh giúp vua học hỏi
nhưng không khỏi khiến vua
có thể bị mang tiếng có tư
tình với vợ lẽ của bầy tôi.
Nếu chỉ "chấp nhất" giữ cho
đúng cái ta gọi là "đạo lý tầm
thường" mà làm hư đại sự,
thì Mạnh-Tử cho rằng "cách
chấp nhất như thế là đáng
ghét", vì nó làm cho hại mất
chân đạo lý, chỉ là làm nổi
một việc nhỏ mà bỏ hết trăm
việc lớn." (14)
Cha con Nguyễn Trãi đã làm
quan với nhà Hồ ngụy triều.
Ông ngoại Nguyễn Trãi, tông
thất nhà Trần mà phản lại
nhà Trần, theo nhà Hồ, bị dư
luận đương thời chê trách. Lê
Lợi hẳn phải biết rõ lai lịch
của Nguyễn Trãi, nhưng vẫn
dùng. Nhà vua chủ trương
thu nạp tất cả nhân tài, kể cả
những người đã "làm phản".
(15) Nguyễn Trãi dâng Bình
Minh sách, Lê Lợi khen hay,
dùng Nguyễn Trãi trong việc
soạn thảo văn từ chiếu chỉ,
nhưng trong bảy năm đầu
(1418-1424) chiến lược
"đánh vào lòng người" theo
Bình Minh sách của Nguyễn
Trãi, vẫn chưa hề giúp quân
Lam Sơn đánh tiến xa ra khỏi
vùng núi Chí Linh được lần
nào. Phải đợi đến cuối năm
1424, tại hội nghị Lam Sơn,
có tướng Nguyễn Chích trình
bày "chiến lược hai hồi" (là
vào đánh Nghệ An trước, rồi
đánh ra Đông Quan sau), thì
c
h

n
g

đ
ó

L
ê

L

i

m

i

c
h
u
y

n

t


đ

i

b

i

t
h
à
n
h

r
a

đ

i

t
h

n
g
.

(
1
6
)
Nhờ bắt được một mật thư
của Vương Thông gửi về vua
Minh, ta biết được quân Minh
ở thế phải cầu hòa. Các
tướng sĩ xin Lê Lợi tấn công
tận diệt địch để trả thù rửa
hận. Nguyễn Trãi can không
nên kết thù với nhà Minh quá
sâu, thế nào chúng cũng
sang đánh nữa, chiến tranh
biết bao giờ cho dứt được.
Tốt hơn là nên tìm cách dụ
hàng để tiết kiệm sinh mạng
của quân sĩ đôi bên. Ta sẽ
mở đường cho Vương Thông
rút quân mà y vẫn giữ được
sĩ diện. Ta tuyên bố đã tìm
được Trần Cảo con cháu nhà
Trần làm vua. Vua Trần nầy
sẽ sai sứ cầu phong, và xin
thực hiện đúng theo lời hứa
của vua Minh trước đây là:
"phù Trần, diệt Hồ xong sẽ
rút quân về Tàu". Trên lập
luận ấy Nguyễn Trãi đã viết
thơ chiêu dụ địch, cuối cùng
Vương Thông mở cửa thành
ra hàng dưới danh nghĩa
giảng hòa, cùng quân ta
uống máu ăn thề, rồi rút
quân về nước.
Về sau, Trần Cảo sợ, bỏ trốn,
bị bắt nên tự tử. Vua Minh
đòi cho được con cháu nhà
Trần làm vua, Lê Lợi trả lời
tìm không còn ai. Mãi đến
cuối năm 1431, nhà Minh mới
nhận phong Lê Lợi làm vua.
Nguyễn Trãi sống trong hoàn
cảnh nước nhà tam phân ngũ
liệt, mà chính nghĩa, chính
thống thay đổi tùy theo thế
"được làm vua" hay "thua
làm giặc". Vừa lớn lên thì nhà
Trần bị mất, Nguyễn Trãi thi
đậu ra làm quan với nhà Hồ.
Quí Ly có một số sáng kiến
cải thiện xã hội nhưng chưa
kịp thực hiện, thì nước bị
ngoại xâm. Trong thời gian
quân Minh chiếm nước ta,
Nguyễn Trãi không tham gia
(đúng hơn là "không thể"
tham gia) với nhóm khởi
nghĩa nào, vì tất cả các nhóm
ấy đều nêu danh nghĩa "phù
Trần diệt Hồ" mà cả nhà
Nguyễn Trãi đã làm quan và
được hậu đãi dưới triều nhà
Hồ, nên bị cho là thành phần
"ngụy". Đến khi Lê Lợi khởi
n
g
h
ĩ
a

x
ư
n
g

B
ì
n
h

Đ

n
h

v
ư
ơ
n
g



m
i

n

T
r
u
n
g
,

k
h
ô
n
g

d
í
n
h

l
í
u

g
ì

đ
ế
n những biến cố xảy ra trong
cung triều nhà Trần ngày
trước ở miền Bắc, thì Nguyễn
Trãi và em họ là Trần Nguyên
Hãn, mới đến xin gia nhập
vào nhóm khởi nghĩa Lam
Sơn. Mặc dầu biết trước Lê
Lợi là người "chỉ có thể giúp
trong lúc hoạn nạn, không
thể ở với nhau khi sung
sướng", nhưng trước nạn
ngoại xâm, cả hai thấy cần
phải tham gia để kháng chiến
giải phóng đất nước.
Bàn về các cách xuất xử của
kẻ sĩ, Mạnh-tử nhận xét: Ông
Bá Di, vua chẳng đáng thờ thì
chẳng thờ, dân chẳng đáng
trị thì chẳng trị. Ông Y Doãn
cho rằng vua nào chẳng phải
là vua mình phục sự? dân
nào chẳng phải là dân mình
sai khiến? Cái trách nhiệm
mình đứng ra gánh vác thiên
hạ nặng nề như thế! Ông Huệ
xứ Liễu Hạ chẳng lấy làm xấu
hổ mà phục sự một vua ô
trược. Dẫu làm một chức
quan nhỏ thấp, ông cũng
chẳng chê. Ba ông tuy đi
khác đường với nhau, nhưng
mục đích vẫn là một. Đó là
nói về lòng nhân vậy. Người
quân tử chỉ chú mục điều
nhân mà thôi. Còn về hành
động cần chi phải giống
nhau. (17)
Vì chú mục đến điều "nhân"
nên Nguyễn Trãi "phá chấp
tòng quyền", đưa Thị Lộ vào
cung giảng sách cho Thái
Tông, cảm hoá một thiếu
quân hung hăng thành một
minh quân khoan từ, để mình
phải chịu tai tiếng với đời. Vì
chú mục đến đức "hiếu sinh",
nên khi quân ta đã nắm chắc
phần thắng lợi, Nguyễn Trãi
đề nghị với Lê Lợi chấm dứt
chiến tranh bằng ngoại giao,
tiết kiệm sinh mạng cho quân
sĩ đôi bên. Và vì chú mục đến
đức "hiếu sinh", Nguyễn Trãi
và Thị Lộ đứng lên cứu mạng
mẹ con hoàng tử Tư Thành
(sau là Lê Thánh Tông), gây
thù oán với bà phi Nguyễn thi
Anh, sinh ra vụ án Lệ Chi
Viên, để rồi ba họ mình phải
bị trảm quyết.
Nếu Nguyễn Công Trứ hết
l
ò
n
g

g
i
ú
p

v
u
a
,

C
a
o

B
á

Q
u
á
t

đ
ò
i

g
i
ế
t

b

o

c
h
ú
a

đ


t
ô
n

m
i
n
h

q
u
â
n
, Nguyễn Khuyến rút lui
không thờ vua nô lệ ngoại
bang, thì Nguyễn Trãi tùy
thời phá chấp, gặp vua đa
nghi thì nhẫn nại đưa vua
vào đường nhân nghĩa, gặp
vua hung hăng thì phá chấp
(dùng Thị Lộ) cảm hóa thành
một vua khoan từ, hiếu sinh.
Bốn danh Nho trên đây, tuy
cùng chú mục đến đức nhân
của Khổng-tử, nhưng trong
hành động, lại xuất xử và
thực hành khác nhau, vì lẽ
thời thế, địa vị, chính kiến
của các vị có phần không
giống nhau.
Nhưng với giá nào?
Từ thời Trung cổ, Nho giáo đã
giúp cho dân Hoa, Việt sớm
tiến lên trình độ một xã hội
có văn hiến, nhưng vì bị bọn
hủ Nho thời nhà Tống xuyên
tạc các lời dạy của Khổng
Mạnh để phục vụ quyền lợi
vua chúa, nên về sau Nho
giáo đã hóa thành một trở
ngại cho bước tiến chung của
xã hội. Thời quân chủ xưa,
(cũng như ở các chế độ phát
xít, cọng sản độc tài ngày
nay), vận mệnh của đất
nước, nhân dân tùy thuộc
vào ý muốn của một cá nhân.
Khiến cho cuối cùng Nguyễn
Trãi, Thị Lộ là những người có
công với đất nước, nhân dân,
lại phải hóa thành nạn nhân
thê thảm trong lịch sử ta.
Thảm nạn, mà chỉ có cách
thay đổi cơ cấu chính trị, bắt
buộc nhà cầm quyền phải
làm theo đúng hiến pháp,
luật lệ, mới mong tránh khỏi
được mà thôi.
Tóm lại, Nguyễn Trãi là kẻ sĩ
phóng khoáng tùy thời phá
chấp, đã hy sinh thực hành
cho đúng với tôn chỉ của đạo
Nho. Trong bức thư chiêu
hàng gửi cho Thái Phúc,
tướng của nhà Minh, Nguyễn
Trãi đã xác nhận: "Kể ra kẻ sĩ
cốt ở chổ gặp thời hay không,
đạo xử thế cốt ở thực hành
được hay không." Nhưng thực
hiện được với giá nào?
Ngày xưa, trước hiện tượng
bế tắc ấy, có lẽ Nguyễn Trãi
đã từng ký gửi tâm sự mình
vào bài "Tự thán" (tương
truyền chính ông là tác giả)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét