LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường của tổng công ty lương thực miền bắc": http://123doc.vn/document/1055417-nang-cao-nang-luc-canh-tranh-tren-thi-truong-cua-tong-cong-ty-luong-thuc-mien-bac.htm
với nhau dựa trên những chế độ sở hữu khác nhau về t liệu sản xuất nhằm đạt
đợc những điều kiện sản xuất và tiêu thụ có lợi nhất, đồng thời tạo điều kiện
thúc đẩy sản xuất phát triển. Cạnh tranh trong kinh tế là cuộc chạy đua
Marathon kinh tế nhng không có đích cuối cùng, ai cảm nhận thấy thì ngời
đó sẽ trở thành nhịp cầu cho các đối thủ khác vơn lên phía trớc.
1.2 Khái niệm sức cạnh tranh.
Một sản phẩm muốn có vị trí vững chắc trên thị trờng và muốn thị trờng
của nó ngày càng mở rộng thì nó điểm mạnh và có khả năng để nâng cao sức
cạnh tranh của mình trên thị trờng đó. Sức cạnh tranh của hàng hoá đợc hiểu
là tất cả các đặc điểm, yếu tố, tiềm năng mà sản phẩm đó có thể duy trì và
phát triển vị trí của mình trên thơng trờng cạnh tranh một các lâu dài và có ý
nghĩa.
Để đánh giá đợc một sản phẩm có sức cạnh tranh mạnh hay không thì
cần dựa vào các nhân tố sau:
- Giá thành sản phẩm và lợi thế về chi phí (khả năng giảm chi phí đến
mức tối đa).
- Chất lợng sản phẩm và khả năng đảm bảo nâng cao chất lợng sản
phẩm của doanh nghiệp.
- Các dịch vụ đi kèm sản phẩm.
2. Vai trò của cạnh tranh.
Trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh, cạnh tranh luôn diễn ra liên tục và
đợc hiểu nh cuộc chạy đua không ngừng giữa các đối thủ. Trong bối cảnh nền
kinh tế Việt Nam hiện nay đang từng bớc khẳng định những u thế của mình,
môi trờng cạnh tranh ngày càng hoàn chỉnh hơn đặt ra cho các doanh nghiệp
những cơ hội và thách thức. Doanh nghiệp nào hiểu biết đối thủ, biết thoả mãn
tốt hơn các nhu cầu và thị hiếu khách hàng so với đối thủ cạnh tranh, biết
giành thế chủ động với ngời cung cấp các nguồn hàng và tận dụng đợc lợi thế
cạnh tranh doanh nghiệp đó sẽ tồn tại, ngợc lại doanh nghiệp không có tiềm
lực cạnh tranh hoặc không nuôi dỡng tiềm lực cạnh tranh tất yếu sẽ thất bại.
Vì thế các doanh nghiệp phải chấp nhận cạnh tranh, đón trớc cạnh tranh
và sẵn sàng sử dụng các công cụ cạnh tranh hữu hiệu của mình. Điều này nhận
thấy rõ nhất ở vai trò của cạnh tranh .
- Cạnh tranh cho phép sử dụng các nguồn tài nguyên một cách tối u.
- Khuyến khích áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật
Trần Ngọc Hải 5 Lớp K36 DQ2
Thoả mãn ngày càng tốt hơn nhu cầu của ngời tiêu dùng.
Thúc đẩy sản xuất phát triển, thúc đẩy tăng năng suất lao động và hiệu
quả kinh tế.
Hơn nữa cạnh tranh còn làm cho giá cả hàng hoá, dịch vụ giảm xuống
nhng chất lợng lại đợc nâng cao, kích thích sức mua, làm tăng tốc độ tăng tr-
ởng của nền kinh tế.
3. Phân loại cạnh tranh.
3.1. Căn cứ vào mức độ, tính chất của cạnh tranh trên thị trờng.
Thị trờng cạnh tranh hoàn hảo.
Cạnh tranh hoàn hảo xảy ra khi có một số lớn doanh nghiệp nhỏ sản
xuất và bán ra một loại hàng hoá, dịch vụ giống hệt nhau và với số lợng của
từng doanh nghiệp qúa nhỏ so với tổng số hàng hoá có trên thị trờng.
Thị trờng này có một số đặc điểm:
Có rất nhiều ngời sản xuất và bán hàng hoá giống hệt nhau, song không
ai có u thế trong việc cung ứng và mua sản phẩm để có thể làm thay đổi giá cả
Ngời bán có thể bán toàn bộ hàng hoá của mình với giá thị trờng. Nh
vậy họ phải chấp nhận giá thị trờng có sẵn và dù họ có tăng giảm lợng hàng
hoá bán ra thì cũng không có tác động gì đến giá cả thị trờng.
Không có trở lực gì quan trọng ảnh hởng đến việc gia nhập vào một thị
trờng hàng hoá, nói cách khác là không có sự cấm đoán do luật lệ quy định
hoặc do tính chất của sản phẩm đòi hỏi phải có trình độ kỹ thuật cao, mức đầu
t quá lớn.
Theo thị trờng này mỗi doanh nghiệp chỉ là một phần tử trong tổng thể
vì vậy các quyết định của doanh nghiệp không ảnh hởng đến thị trờng. Mặt
khác việc định giá của doanh nghiệp không cách nào khác hơn là phải tự thích
ứng với giá cả hiên cả hiện có trên thị trờng. Muốn có lãi doanh nghiệp phải
giảm thấp chi phí sản xuất.
Cạnh tranh không hoàn hảo.
Thị trờng cạnh tranh không hoàn hảo là tình trạng cạnh tranh bình th-
ờng vì nó phổ biến trong điều kiện hiện nay. Đây là thị trờng mà phần lớn các
sản phẩm là không đồng nhất. Cùng sản phẩm có thể chia làm nhiều thứ loại,
nhiều chất lợng Sản phẩm tơng tự có thể đợc bán với nhiều nhãn hiệu khác
nhau, mỗi nhãn hiệu đều mang hình ảnh hay uy tín khác nhau. Mặc dù, sự
khác biệt giữa các sản phẩm không đáng kể (sự khác biệt mang ý nghĩa quan
niệm, tâm lý là chính): các điều kiện mua bán hàng hoá cũng là khác nhau.
Trần Ngọc Hải 6 Lớp K36 DQ2
Ngời bán có thể có uy tín độc đáo riêng biệt đối với ngời mua do nhiều lý do
khác nhau: khách hàng quen, gây đợc lòng tin hay các cách thức quảng cáo
cũng có thể ảnh hởng tới ngời mua, làm ngời mua thích mua của một nhà
cung ứng này hơn của một nhà cung ứng khác.
Đờng cầu của thị trờng là đờng không co dãn. Việc mua và bán sản
phẩm đợc thực hiện trong bầu không khí có tính chất giao thơng rất lớn, điều
này khác hẳn với thị trờng cạnh tranh hoàn hảo. Ngời bán có thể thu hút khách
hàng bởi nhiều cách: quảng cáo, khuyến mại, phơng thức bán hàng, cung cấp
dịch vụ, tín dụng, hoặc có nhiều điều khoản u đãi Do đó, trong giá có sự
phân biệt, xuất hiện hiện tợng nhiều giá. Có thể nói giá cả nên xuấng thất th-
ờng tuỳ khu vực, tuỳ nguồn cung ứng, tùy ngời mua.
Cạnh tranh độc quyền.
Thị trờng độc quyền.
Là thị trờng mà ở đó chỉ có duy nhất một ngời mua (Độc quyền mua)
hoặc một ngời bán (Độc quyền bán). Chính sách của thị trờng này là định giá
cao và sản lợng hàng hoá ít. Tuy nhiên điều đó không đồng nghĩa với việc nhà
độc quyền định giá bao nhiêu cũng đợc. Tuỳ theo đặc điểm tiêu dùng của sản
phẩm và cơ chế quản lý giá của Nhà nớc mà nhà độc quyền định giá cao hay
thấp để thu đợc lợi nhuận tối đa. Các nhà độc quyền cũng dùng hình thức cạnh
tranh phi giá nh quảng cáo để thu hút thêm khách hàng.
Nói chung độc quyền trong sản xuất kinh doanh là lợi thế lớn nhất đối
vơi nhà độc quyền, song về mặt xã hội thì nó kìm hãm sự phát triển sản xuất,
làm thiệt hại lợi ích ngời tiêu dùng.
Cạnh tranh độc quyền.
Trong thị trờng cạnh tranh độc quyền, các doanh nghiệp cạnh tranh với
nhau bằng việc bán sản phẩm phân biệt, các sản phẩm có thể thay thế cho
nhau ở mức độ cao nhng không phải là thay thế hoàn hảo. Nghĩa là độ co dãn
của cầu là cao chứ không phải là vô cùng.Vì những lý do khác nhau (chất l-
ợng, hình dáng, danh tiếng ) ngời tiêu dùng coi mặt hàng của mỗi doanh
nghiệp khác với của các doanh nghiệp khác. Do đó một số khách hàng sẵn
sàng trả giá cao hơn cho sản phẩm mình thích, trong ngắn hạn khó ra nhập thị
trờng nhng dài hạn thì có thể . Nhà sản xuất định giá nhng không thể tăng giá
một cách bất hợp lý, về dài hạn thì không thể trở thành thị trờng độc quyền đ-
ợc. Cạnh tranh độc quyền sử dụng các hình thức cạnh tranh phi giá nh quảng
cáo, phân biệt sản phẩm .
Độc quyền tập đoàn.
Trần Ngọc Hải 7 Lớp K36 DQ2
Trong thị trờng độc quyền tập đoàn, sản phẩm có thể giống nhau hoặc
khác nhau và chỉ có một số doanh nghiệp sản xuất toàn bộ hay hầu hết toàn bộ
tổng sản lợng.Tính phụ thuộc giữa các doanh nghiệp là lớn, hành vi của doanh
nghiệp này ảnh hởng tới doanh nghiệp khác. Nếu một doanh nghiệp giảm giá
sẽ dẫn đến tình trạng phá giá do các doanh nghiệp dễ kết cấu với nhau. Nhng
vì cạnh tranh bằng giá không có lợi do vậy ngời ta chuyển sang cạnh tranh
bằng chất lợng sản phẩm, đa dạng hoá sản phẩm. Trong thị trờng độc quyền
tập đoàn, một số hoặc tất cả các doanh nghiệp đều thu hút đợc lợi nhuận đáng
kể trong dài hạn thì có các hàng rào ra nhập làm cho các doanh nghiệp mới
không thể hoặc khó mà ra nhập thị trờng. Trong độc quyền tập đoàn, các nhà
sản xuất cũng sử dụng nhiều hình thức cạnh tranh phi giá nh quảng cáo hoặc
phân biệt sản phẩm giống nh trong cạnh tranh độc quyền.
3.2. Căn cứ vào các chủ thể kinh tế tham gia vào thị trờng.
Cạnh tranh giữa ngời bán và ngời mua.
Là cuộc cạnh tranh giữa ngời bán và ngời mua diễn ra theo quy luật
mua rẻ bán đắt trên thị trờng. Ngời bán muốn bán sản phẩm của mình với giá
cao nhất, ngợc lại ngời mua muốn mua với giá thấp nhất. Giá cuối cùng là giá
thống nhất giữa ngời mua và ngời bán sau một quá trình mặc cả với nhau mà
theo đó hoạt động mua bán đợc thực hiện.
Cạnh tranh giữa những ngời mua với nhau.
Là cuộc cạnh tranh xảy ra khi cung nhỏ hơn cầu. Khi lợng cung một
loại hàng hoá, dịch vụ nào đó quá thấp so với nhu cầu tiêu dùng thì cuộc cạnh
tranh giữa những ngời mua sẽ trở nên quyết liệt. Lúc đó giá cả hàng hoá, dịch
vụ sẽ tăng vọt nhng do hàng hoá khan hiếm nên ngời mua vẫn sẵn sàng trả giá
cao cho hàng hoá mình cần. Kết qủa là ngời bán thu đợc lợi nhuận cao còn ng-
ời mua thì bị thiệt. Đây là cuộc cạnh tranh mà theo đó những ngời mua sẽ bị
thiệt còn những ngời bán đợc lợi .
Cạnh tranh giữa những ngời bán với nhau.
Đây là cuộc cạnh tranh gay go và quyết liệt nhất, chiếm đa số trên thị
trờng.Thực tế cho thấy khi sản xuất hàng hoá càng phát triển càng có nhiều
ngời bán dẫn đến cạnh tranh ngày càng quyết liệt trên nhiều phơng diện và
nhiều hình thức đa dạng khác nhau. Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ
thuật một mặt tác động đến các nhà sản xuất, một mặt làm thay đổi nhu cầu
của ngời mua, do đó nó dần làm biến đổi vị trí của các yếu tố cạnh tranh. Một
Trần Ngọc Hải 8 Lớp K36 DQ2
cách chung nhất cạnh tranh là sự ganh đua ở các giác độ: chât lợng, giá cả,
nghệ thuật tổ chức tiêu thụ và thời gian. Giá là yếu tố thứ nhất của cạnh tranh,
đây là hình thức cạnh tranh đợc sử dụng nhiều nhất. Khi nhu cầu con ngời
phát triển cao hơn thì yếu tố chất lợng sản phẩm chiếm vị trí chính yếu. Đến
nay vào những năm cuối của thế kỷ 20
thì với các doanh nghiệp lớn họ có với
nhau sự cân bằng về giá cả thì yếu tố thời gian và tổ chức tiêu thụ sản phẩm là
quan trọng nhất.
3.3. Căn cứ vào phạm vi ngành kinh tế.
Cạnh tranh giữa các ngành.
Là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong các ngành kinh tế khác nhau
nhằm thu đợc lợi nhuận và có tỷ suất lợi nhuận cao hơn so với vốn đầu t bỏ ra
đầu t vào ngành khác. Sự cạnh tranh giữa các ngành dẫn đến doanh nghiệp
đang kinh doanh trong ngành có tỷ suất lợi nhuận thấp chuyển sang kinh
doanh ở ngành có tỷ suất lợi nhuận cao hơn.
Cạnh tranh trong nội bộ ngành.
Là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cùng sản xuất và tiêu thụ một loại
hàng hoá hoặc dịch vụ nào đó. Trong cuộc cạnh tranh này các doanh nghiệp
thôn tính lẫn nhau, doanh nghiệp chiến thắng sẽ mở rộng phạm vi hoạt động
của mình trên thị trờng, doanh nghiệp thua sẽ sẽ thu hẹp phạm vi kinh daonh
thậm chí phá sản.
II. Các nhân tố ảnh hởng tới khả năng cạnh tranh của
doanh nghiệp và các chỉ tiêu đánh giá sức cạnh
tranh của doanh nghiệp .
1. Các nhân tố ảnh hởng tới sức cạnh tranh của doanh nghiệp .
1.1. Các nhân tố bên ngoài.
Michael.E.Porter (1982) đã đa ra khái niệm cạnh tranh mở rộng, theo
đó cạnh tranh trong một ngành phụ thuộc vào năm thế lực.
Sơ đồ 1: Các thế lực điều khiển cuộc cạnh tranh trong ngành
Trần Ngọc Hải 9 Lớp K36 DQ2
Các đối thủ
tiềm năng
Ngời
cung ứng
Doanh nghiệp
và các đối thủ
hiện tại
Ngời mua
Năm thế lực cạnh tranh này kết hợp với nhau xác định cờng độ cạnh
tranh và mức lợi nhuận của ngành. Thế lực nào mạnh nhất sẽ thống trị và trở
thành trọng yếu theo quan điểm xây dựng chiến lợc. Mỗi lực lợng trong số 5
lực lợng trên càng mạnh thì càng hạn chế khả năng cho các doanh nghiệp tăng
giá cả và kiếm lợi nhuận; Ngợc lại, khi một lực lợng nào đó mà yếu thì cơ hội
để doanh nghiệp có đợc lợi nhuận sẽ càng khả thi. Để làm rõ điều này chung
ta hãy cùng tìm hiểu các lực lợng đó.
Các đối thủ cạnh tranh hiện tại.
Sự hiểu biết về các đối thủ cạnh tranh có một ý nghĩa quan trọng vì các
đối thủ cạnh tranh sẽ quyết định tính chất và mức độ tranh đua. Nếu các đối
thủ này yếu doanh nghiệp có cơ hội để tăng giá bán và kiếm đợc nhiều lợi
nhuận hơn. Ngợc lại,khi các đối thủ cạnh tranh hiện tại mạnh thì sự cạnh tranh
về giá là không đáng kể, mọi cuộc cạnh tranh về giá cả đều dẫn tới tổn thơng.
Bàn về cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong một ngành sản xuất ta
thờng nói tới những nội dung chủ yếu nh: cơ cấu cạnh tranh ngành, thực trạng
cầu của ngành và các hàng rào lối ra.
Cơ cấu cạnh tranh của ngành dựa vào số liệu và khả năng phân phối sản
phẩm của doanh nghiệp trong ngành sản xuất. Cơ cấu cạnh tranh thay đổi từ
ngành sản xuất phân tán tới ngành sản xuất tập trung. Bản chất và mức độ
cạnh tranh đối với các ngành tập trung là rất khó phân tích và dự đoán.
Tình trạng cầu của một ngành là một yếu tố quyết định khác về tính
mãnh liệt trong cạnh tranh nội bộ ngành. Thông thờng, cầu tăng tạo cho doanh
nghiệp một cơ hội lớn để mở rộng hoạt động. Ngợc lại, cầu giảm dẫn đến
cạnh tranh khốc liệt để các doanh nghiệp giữ đợc phần thị trờng đã chiếm lĩnh.
Hàng rào lối ra là mối đe doạ cạnh tranh nghiêm trọng khi cầu của
ngành giảm mạnh. Đó là kinh tế, chiến lợc và là quan hệ tình cảm giữ doanh
nghiệp trụ lại. Nếu hàng rào lối ra cao, các doanh nghiệp có thể bị khoá chặt
trong một ngành sản xuất không a thích. Hàng rào lối ra thờng bao gồm: Đầu
t nhà xởng và thiết bị, chi phí trực tiếp cho việc rời bỏ ngành là cao, quan hệ
chiến lợc giữa các đơn vị chiến lợc kinh doanh, hay đó là chi phí xã hội khi
thay đổi nh khó khăn về sự sa thải nhân công, chi phí đào tạo lại
Do vậy nhiệm vụ của mỗi doanh nghiệp là tìm kiếm thông tin, phân tích
Trần Ngọc Hải 10 Lớp K36 DQ2
Sản phẩm dịch
vụ thay thế
đánh giá chính xác khả năng của những đối thủ cạnh tranh, đặc biệt là những
đối thủ chính để xây dựng cho mình chiến lợc cạnh tranh thích hợp với môi tr-
ờng chung.
Các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn.
Các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn là các doanh nghiệp hiện tại cha cạnh
tranh trong cùng một ngành sản xuất, nhng có khả năng cạnh tranh nếu họ lựa
chọn và quyết định gia nhập ngành. Đây là đe dọa cho các doanh nghiệp hiện
tại. Các doanh nghiệp hiện tại cố gắng ngăn cản các đối thủ tiềm ẩn muốn ra
nhập ngành vì càng nhiều doanh nghiệp có trong một ngành sản xuất thì cạnh
tranh càng khốc liệt hơn. Với sự mong muốn chiếm lĩnh một thị phần nào đó
các đối thủ mới có thể làm giá bán bị kéo xuống hoặc chi phí của các công ty
đi trớc có thể bị tăng lên và kết quả làm giảm mức lợi nhuận. Sự xâm nhập vào
một ngành, với dự định xây dựng một vị trí trên thị trờng kiểu đó có lẽ cần đợc
coi nh một sự nhập cuộc của đối thủ mới. Việc tạo ra hàng rào hợp pháp ngăn
cản sự xâm nhập từ bên ngoài hoặc sự phản ứng khôn khéo của các doanh
nghiệp đang cạnh tranh sẽ làm giảm bớt mối hiểm hoạ hoặc do doanh nghiệp
mới xâm nhập gây ra. Những rào cản chủ yếu đợc xác định là:
Những u thế tuyệt đối về chi phí: Có thể đó là u thế về các sáng chế,
việc làm chủ một công nghệ riêng đặc thù hoặc có một nguồn nhân lực
chuyên tinh, làm chủ đợc nguồn nguyên vật liệu cũng nh kinh nghiệm cho
phép có đợc các chi phí thấp hơn. Hoặc đó có thể là lợi thế về chi phí cố định
vì các đối thủ cạnh tranh hiện tại thờng có những lợi thế chi phí mà các đối
thủ mới không thể nào có đợc, lợi thế này không phụ thuộc vào quy mô doanh
nghiệp nh: Bản quyền về công nghệ và sản phẩm, lợi thế về nguồn cung cấp
nguyên vật liệu, lợi thế về vị trí địa lý, hay kinh nghiệm và kĩ năng trong sản
xuất.
Ngoài ra có thể kể đến những loại chi phí khác nh chi phí đặt cọc, tiền
cợc. Đây là một khoản tiền lúc đầu buộc khách hàng mua sản phẩm của một
doanh nghiệp lúc đầu phải trả nếu họ không mua sản phẩm của ngành đó nữa
và chuyển sang mua sản phẩm của một doanh nghiệp khác hay là chi phí phạt
do thay đổi hãng hợp đồng tiêu thụ hoặc cung cấp vật t. Hầu hết các khách
hàng đều phải thực hiện việc bồi thờng trừ phi các nhà cung cấp mới những
cải tiến có lợi về chi phí và thực hiện.
Sự khác biệt hoá của sản phẩm khiến cho khách hàng trung thành với
nhãn hiệu sản phẩm của các doanh nghiệp có vị thế uy tín vững vàng hoặc đã
đứng vững.Thờng các doanh nghiệp này có u thế cạnh tranh về chất lợng sản
Trần Ngọc Hải 11 Lớp K36 DQ2
phẩm, về dịch vụ hậu mãi hoặc về khả năng chuyên biệt hoá sản phẩm Sự
trung thành với nhãn hiệu là nguồn rào cản khiến cho các doanh nghiệp mới
tham gia khó lòng giành giật thị phần trên thơng trờng. Các doanh nghiệp có
tiềm năng hẳn phải tốn kém rất nhiều để bẻ gãy lòng u ái đã đợc củng cố của
khách hàng với các nhãn hiệu đã có uy tín trớc đó.
Kinh tế quy mô hay còn gọi là kinh tế bậc thang: Các chi phí về sản
xuất, phân phối, bán, quảng cáo, dịch vụ nghiên cú sẽ giảm bớt với sự gia tăng
của số lợng bán. Hay nói cách khác số lợng sản xuất và bán tăng lên thì chi
phí cho một đơn vị sản phẩm càng giảm đi.
Kênh phân phối chủ yếu đã đợc thiết lập của các doanh nghiệp hiện tại
cũng là một vật cản đối với các doanh nghiệp muốn nhảy vào chia sẻ thị trờng.
Để tham gia vào mạng lới phân phối đã đợc thiết lập các doanh nghiệp mới
thông thờng phải chia sẻ các chi phí quảng cáo hoặc hỗ trợ bán hàng. Mọi chi
phí này sẽ làm giảm lợi nhuận của các đối thủ mới; Trong khi đó các đối thủ
cạnh tranh hiện tại có thể giữ chặt các các kênh phân phối dựa trên cơ sở các
mối quan hệ lâu dài, chất lợng phục vụ cao Nh vậy buộc doanh nghiệp mới
phải tạo ra một mạng lới phân phối mới và đó là một cản trở đáng kể.
Phản ứng lại của các doanh nghiệp hiện tại trong lĩnh vực kinh doanh.
Nếu việc phản ứng lại tích cực và khôn khéo một lối vào trong lĩnh vực đó là
có thể đợc. Nhng nếu phản ứng lại bằng một cuộc chiến tranh giá cả thì cái giá
phải trả là quá đắt để nhập ngành bởi các đối thủ cạnh tranh hiện tại phản ứng
quyết liệt, liên kết lại với nhau để đối phó.
Khách hàng (Ngời mua).
Khách hàng hay ngời mua hàng là một bộ phận không thể tách rời
trong môi trờng cạnh tranh. Khách hàng tác động đến doanh nghiệp thể hiện
mối tơng quan về thế lực nếu nghiêng về phía nào thì phía đó có lợi. Các
doanh nghiệp cần phải làm chủ mối tơng quan này, thiết lập đợc mối quan hệ
với khách hàng để giữ khách hàng (thông qua số lợng, chất lợng, giá cả, điều
kiện giao nhận và dịch vụ sau bán hàng). Khách hàng có u thế là có thể làm
cho lợi nhuận của ngành hàng giảm bằng cách ép giá xuống hoặc đòi hỏi chất
lợng cao hơn và phải làm nhiều công việc dịch vụ hơn.
Khách hàng có thể đợc xem nh một sự đe dọa cạnh tranh khi họ buộc
doanh nghiệp phải giảm giá hoặc có nhu cầu chất lợng cao và dịch vụ tốt hơn.
Ngợc lại khi ngời mua (khách hàng) yếu sẽ mang đến cho doanh nghiệp cơ
hội để tăng giá kiếm đợc lợi nhuận nhiều hơn. Ngời mua gồm: Ngời tiêu dùng
cuối cùng, các nhà phân phối (bán buôn, bán lẻ) và các nhà mua công nghiệp.
Trần Ngọc Hải 12 Lớp K36 DQ2
áp lực của họ thờng đợc thể hiện trong những trờng hợp sau:
- Nhiều nhà cung ứng có quy mô vừa và nhỏ trong ngành cung cấp.
Trong khi đó ngời mua là số ít và có quy mô lớn, nó cho phép ngời mua chi
phối các công ty cung cấp.
- Khách hàng mua một khối lợng lớn sản phẩm hàng hoá của doanh
nghiệp và sử dụng đó làm lợi thế để mặc cả cho sự giảm giá không hợp lý.
- Khách hàng có thể vận dụng chiến lợc liên kết dọc, tức là họ có xu
hớng khép kín sản xuất, tự sản xuất, gia công các bộ phận chi tiết, bán sản
phẩm cho mình.
- Khách hàng có đầy đủ các thông tin về thị trờng nh nhu cầu, giá cả
của các nhà cung cấp thì áp lực mặc cả của họ càng lớn.
Để nâng cao khả năng cao khả năng cạnh tranh thì doanh nghiệp phải
giảm tối đa sức ép trên và tạo môi trờng với các khách hàng qua các chính
sách giá, chất lợng sản phẩm, dịch vụ, biến họ trở thành ngời cộng tác tốt.
Ngời cung ứng.
Đó là những nhà cung cấp nguyên vật liệu, máy móc thiết bị, tiền
vốn,lao động đôi khi gây đe doạ khi họ có khả năng tăng giá bán đầu vào hoặc
giảm chất lợng các sản phẩm dịch vụ mà họ cung cấp. Qua đó làm giảm lợi
nhuận của doanh nghiệp. Họ thờng gây sức ép trong những tình huống nh:
- Họ độc quyền cung cấp vật t.
- Khi các vật t đợc cung cấp không có khả năng thay thế
- Không có điều khoản ràng buộc hoặc bảo đảm trong các hợp đồng
kinh tế đã kí kết.
- Khi vật t đó quan trọng, quyết định trong sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp
- Khi họ có khả năng khép kín sản xuất.
Vì vậy doanh nghiệp cần thiết lập quan hệ lâu dài với các nhà cung cấp
và đa ra các biện pháp ràng buộc với nhà vật t để giảm bớt các ràng buộc họ
có thể gây nên với mình.
Sản phẩm thay thế.
Sự ra đời của các sản phẩm thay thế là một tất yếu nhằm đáp ứng sự
biến động của nhu cầu thị trờng theo hớng ngày càng đa dạng hơn, phong phú
và cao cấp hơn, và chính nó lại làm giảm khả năng cạnh tranh của các sản
phẩm bị thay thế.
Trần Ngọc Hải 13 Lớp K36 DQ2
Một doanh nghiệp có thể hoạt động thu đợc nhiều lợi nhuận khi trong
ngành kinh doanh đó có các các cản trở xâm nhập cao, mức độ cạnh tranh
giữa các doanh nghiệp hiện có là thấp, không có sản phẩm thay thế, thế lực
khách hàng yếu và thế lực nhà cung cấp cũng yếu. Ngợc lại, một doanh
nghiệp tiến hành kinh doanh trong một ngành hàng có các cản trở xâm nhập
thấp, cạnh tranh mạnh mẽ, có một số sản phẩm thay thế, thế lực và của khách
hàng và nhà cung cấp mạnh thì kinh doanh của doanh nghiệp sẽ chật vật và lợi
nhuận thấp. Các nhà quản lý cần phải phân tích và hiểu rõ đợc các thế lực
trong môi trờng cạnh tranh, từ đó tận dụng cơ hội và tìm vị trí có lợi nhất cho
doanh nghiệp trong môi trờng cạnh tranh của doanh nghiệp.
1.2. Các nhân tố bên trong.
Nguồn nhân lực:
Nguồn nhân lực đợc coi là vấn đề có ý nghĩa sống còn với mọi tổ chức
trong tơng lai. Nguồn nhân lực trong doanh nghiệp đợc chia làm 3 cấp:
+ Quản trị viên cấp cao: Gồm ban giám đốc và các trởng phó phòng
ban. Đây là đội ngũ có ảnh hởng rất lớn đến kết quả sản xuất kinh doanh. Nếu
họ có trình độ quản lý cao, có nhiều kinh nghiệm kinh doanh trên thơng trờng,
có khả năng đánh giá và quan hệ đối ngoại tốt thì doanh nghiệp đó sẽ có sức
cạnh tranh cao và ngợc lại.
+ Quản trị viên cấp trung gian: Đây là đội ngũ trực tiếp quản lý phân
xởng sản xuất sản phẩm đòi hỏi phải có có kinh nghiệm công tác, khả năng ra
quyết định và diều hành công tác.
+ Đội ngũ quản trị viên cấp cơ sở: Khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp phần nào cũng chịu sự chi phối của đội ngũ này thông qua các yếu tố
nh: năng suất lao động, trình độ tay nghề, ý thức trách nhiệm, kỷ luật lao động
và sự sáng tạo của họ bởi vì các yếu tố này chi phối việc nâng cao chất lợng
sản phẩm, hạ giá thành sản phẩm cũng nh tạo thêm tính u việt, độc đáo mới lạ
của sản phẩm.
Nguồn lực về tài chính.
Khả năng tài chính có ảnh hởng rất lớn tới sức cạnh tranh của doanh
nghiệp trên thị trờng. Khả năng tài chính đợc hiểu là quy mô tài chính của
doanh nghiệp và tình hình hoạt động, các chỉ tiêu tài chính hàng năm nh tỷ lệ
thu hồi vốn, khả năng thanh toán Nếu một doanh nghiệp có tình trạng tài
chính tốt, khả năng huy động vốn là lớn sẽ cho phép doanh nghiệp có nhiều
vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh, đổi mới công nghệ và máy móc thiết bị,
đồng thời tăng khả năng hợp tác đầu t về liên doanh liên kết.Tình hình sử
Trần Ngọc Hải 14 Lớp K36 DQ2
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét